• tác giả

Nguyễn Tấn Cứ – Bùi Giáng, ngày tháng ngao du

Nhắc đến Thi sĩ Bùi Giáng người ta thường hay biết đến một gã trung niên sặc sỡ màu sắc xanh xanh vàng vàng đỏ đỏ với  đôi mắt sáng quắc sau đôi kính cận dày cộp. Khắp Sài Gòn Chợ Lớn người ta cũng thường thấy thi sĩ thoắt ẩn thoắt hiện như một kiếm khách có thân thủ phi phàm, với lối phục trang quái dị vá chằng vá đụp nhìn như đệ tử của Cái Bang trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Nhưng nếu ai có một chút thẩm mỹ nhứt định sẽ phải thán phục cho cách chọn màu sắc của thi sĩ vì nhìn kỹ sẽ thấy đây là một mảng màu hội họa sạch sẽ cực đẹp. Đây đúng là kiểu thời trang của Bùi Giáng, từ cái kính cho đến đôi giày rách, cái nón và cái bị, tạo thành một bức tranh kì lạ, nhìn giống một đạo sĩ thời Xuân Thu Chiến Quốc nhiều hơn là lối phục sức của loài người của thế kỉ hai mươi. Màu sắc ấy cũng thay đổi từng ngày khi người ta chợt bắt gặp Bùi Đại Ca đang múa may quay cuồng ở chợ Tân Định và chỉ một loáng sau đã thấy thi sĩ đang ngao du ở tận chợ Bà Chiểu. Ông đi như mây lang thang như gió, hết quận nầy đến quận khác, hết quán nầy đến quán kia. Cung cách ăn uống của Bùi Giáng thì phải nói là đặc biệt, vì nó khác thường đến nỗi tôi không thể không viết về con người có nhiều giai thoại nầy, và đây là một giai thoại mà tôi nghe kể và bất ngờ thấy được.

Xích lô là một phương tiện mà Bùi Đại Ca thường hay dùng để di chuyển khắp Sài Gòn Chợ Lớn. Khi muốn đi đâu đó, Bùi Tiên Sinh — tôi xin gọi theo nhiều danh xưng mà người đời đặt cho Bùi Giáng: Bùi Tiên Sinh, Trung Niên Thi Sĩ, Đười Ươi Thi Sĩ — chỉ việc ngoắc một chiếc xích lô thân quen, leo tót lên chễm chệ như vua đang vi hành, cứ thế đi cho hết ngày tàn lại đến đêm thâu. Nghe mấy anh xích lô nầy kể lại, mỗi lần chở Ổng là vui nhất trên đời vì Ổng luôn luôn cho ăn nhậu no say, không biết tiền ở đâu Ổng luôn cho anh em rất hậu, mỗi lần chở “bệ hạ” là có thể sống được ba bốn ngày. Ổng có  một lối xưng hô rất ư phiêu bồng cà rỡn hảo hán Lương Sơn Bạc: “Cho trẫm về Chợ Lớn đi đại ca.” Chỉ cần nghe như vậy thôi, đại ca xích lô đã sướng rân cười toe và cung kính hạ càng: “Dạ xin  mời bệ hạ an tọa, đại ca xin hầu ngài.” Với một nụ cười an nhiên vi tiếu, Bùi Đại Ca nhảy tót lên xe một cách điệu nghệ, xong hai thầy trò bắt đầu cuộc giang hồ hành hiệp “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn.”

Đói thì ăn khát thì uống mệt quá thì nghỉ, gốc cây hè đường công viên ghế đá bất cứ chỗ nào thích là dừng, nhưng có điều lạ là trẫm vẫn ngự trên ngai vàng xích lô bất cứ nơi đâu. Đại ca làm gì tùy thích nhưng làm ơn đừng cho chiếc xích lô chỏng gọng ngã nhào khi trẫm đang ngự là được rồi. Trẫm thích lim dim trong cái náo nhiệt ầm ì giữa Sài Gòn hoa lệ, nếu có mỏi quá vì phải ngồi lâu, trẫm sẽ đột nhiên phóng cái ào xuống đường chơi một vài điệu luân vũ của “đười ươi rớt hột” trước những đôi mắt thảng thốt của con người. Xong rồi “phóc” lên yên: “Đi thôi đại ca, hỏi rằng trẫm sẽ đi đâu, thưa rằng trẫm sẽ đi rất lâu chưa về. Hí hí đi thôi đại ca. Hỏi rằng tiền bạc ở đâu, thưa rằng tiền bạc ở trong đầu rất lâu. Dừng lại đây đi đại ca.” Điểm dừng là một biệt thự kín cổng cao tường, từ bên trong nghe tiếng chó dữ hực lên. Đại ca mới nghe đã muốn tháo chạy, nhưng trẫm điềm nhiên bảo đại ca cho xe chạy sát vào cánh cổng nơi có nút bấm. Tiếng chuông vang lên rền rĩ kèm theo tiếng của chủ nhân lào xào ra mở cửa.  “Ai đó?” một giọng điệu kéo dài hách dịch. Trẫm hắng giọng, “Trẫm đây đại ca.”  Cửa mở toang và giọng người reo vui, “Trời đất ơi anh Dzoáng [Giáng] ngọn gió nào đưa anh tới đây.” Vẫn kẻ đứng người ngồi, trẫm tỉnh queo, “Thì đi rong chơi, mi có buồn không nếu tao vay mi ít tiền.” Chủ nhân không một chút buồn phiền trái lại còn vui mừng ra mặt vì được cung phụng cho thi sĩ, “Dạ được, được mà anh Dzoáng, chờ em một chút.” Nói xong chủ nhân quay thật nhanh  vào nhà, và cũng thật nhanh đã quay trở lại, dường như nếu chậm anh Dzoáng sẽ đi mất tiêu, trên tay là một phong bì màu xanh kính cẩn dâng lên. Thi sĩ nhét vào lưng quần xong rồi nhẹ nhàng, “Ta viết cho  mi một bài thơ hí?”  Nói xong không đợi trả lời, anh Dzoáng phóng bút làm ngay một bài thơ ngay trên chính cái phong bì đó. “Xong rồi, đây ta tặng mi.”  Chủ nhân chưa kịp cám ơn thì thi sĩ đã vỗ vào càng xe, “Đi thôi đại ca ơi.”  Đại ca và chủ nhà nhìn nhau cười toe như ngầm hiểu rằng rứa là vui lắm rồi đây, thôi đây đi đây, ừ thôi đó đi đi.

“Đi đâu bây giờ?” đại ca gióng tiếng hỏi. Thi sĩ trả lời, “Đại ca chở trẫm về quận 3 đi, vào cái quán bia ấy biết không?” Tất nhiên là phải biết rồi làm sao không biết được. Xe trực chỉ Quán 81. Từ xa anh em đã thấy xe của Trung Niên Thi sĩ xuất hiện cặp vào hàng hiên của quán. Cũng vẫn trên xe, thi sĩ quát vào quán, “Cho hây choai Soài goòn.” Bia được đưa ra kèm theo một dĩa đậu phụ. Hai thầy trò ngồi ngay trên xe nhậu khề khà như mọi chiến hữu đang ngồi lô nhô trong quán nỏ mắt ra nhìn Đười Ươi Thi Sĩ. Anh Dzoáng nhậu không nhiều, chỉ mới hai ve là mặt đỏ gay mắt sáng rực lên như hai ngọn đèn pha.  Đại ca xích lô muốn uống bao nhiêu thì uống, nhưng nhớ không được say kềnh ra vì còn phải đưa trẫm về nữa. Bao nhiêu trẫm thanh toán hết, lại còn boa lung tung đầu mày cuối mắt cho mấy em phục vụ. Và cũng nhanh như lúc đến, hai thầy trò lại ra đi sau một màn nhảy múa ngay trên sân của quán nhậu.

Thi Sĩ đã lâng lâng rồi, trong khi ngoài kia lại đang giờ cao điểm, làm sao để có thể vượt qua cái đám đông lô nhô lúc nhúc đang kẹt cứng buổi chiều tan tầm đây. Chuyện nhỏ đối với Trung Niên Thi  Sĩ. Không biết từ đâu anh Dzoáng bỗng lôi ra một cái tu huýt thổi rầm trời cùng với một chiêu lăng ba vi bộ. Anh Dzoáng chạy bay ra giữa ngã tư bắt đầu một cuộc nhảy nhót hoành tráng tả xung hữu đột như phim. Bùi Thi Sĩ biến thành một cảnh sát giao thông có một không hai trên cái trần gian lộn xộn hỗn mang nầy. Dòng xe cộ đang dừng như bị một cái đập ngăn lại bỗng dưng được tháo chốt lăn bánh trôi từ từ theo những động tác điều khiển điệu đàng như một nhạc trưởng của Hòa Âm Thi Sĩ. Và chiếc xe xích lô của đại ca tất nhiên như đã được dặn trước cũng từ từ chạy xà đến chúc càng cho thi sĩ leo lên. Chưa vội chấm hết cuộc trình diễn, thi sĩ tiếp tục múa may theo nhịp điệu tiếng còi thêm một hồi nữa, cho đến khi xe cộ đã lưu thông theo ý muốn mở đường đi cho bệ hạ. Rồi ông bỗng dưng biến mất, và cái ngã tư đường phố lại tiếp tục kẹt cứng như trước. Khi đó hai thầy trò đã thong dong ngao du ca hát tận bên những quán xá cùng bạn bè trần gian vi diệu ở cà phê Bà Lê Chân, Tân Định rồi.

Như đã viết, ông Dzoáng có lối ngồi ăn uống làm thơ hết sức đặc biệt, nghĩa là chỉ ngồi trên xe xích lô thôi, không bao giờ ngồi trên ghế của bất cứ quán nào. Ngay cả cách xưng hô “trẫm” và “đại ca” cũng tếu táo thâm trầm và vô cùng cà rỡn của Bùi Giáng. Nhiều anh em văn nghệ yêu thích ông nên thường hay xin ông cho thơ. Việc nầy không hề khó,   thi sĩ luôn sẵn lòng dâng hiến cho những ai yêu thi ca. Nhưng đề tặng như thế nào mới nan giải vì đa phần thi sĩ không thân với ai theo ý nghĩa bè bạn văn chương, đề tặng cụ thể một ai đó có tên tuổi thì khó quá. Vậy nên mới có chuyện một anh chàng làm thơ nọ được Bùi Thi Sĩ tặng thơ với lời đề tặng như sau, “Bài thơ nầy trẫm tặng cho đại ca,”  kí tên “Trẫm, Bùi Giáng.” Sướng quá, anh nầy đem khoe với mọi người và toáng lên rằng “được Bùi Giáng nể lắm nên mới gọi là đại ca.” Khi nghe một đàn anh phân tích, anh này mới tá hỏa hiểu ra thi sĩ đang cà rỡn cà rưng la cà chữ nghĩa với mình. Nhưng có hề chi, vì không chỉ một mình anh nầy bị tháu cáy “yết đế ba la tăng yết đế” như trên. Rất nhiều người khi được Bùi Giáng xuất thần tặng thơ đều nhận được một lời đề tặng như thế. Nghe đâu có một giai thoại do Bùi Chí Vinh kể rằng, anh được Bùi Giáng nâng một cái chổi quét nhà đưa tận tay như truyền Vương Trượng Thi Sĩ sau khi nghe Vinh đọc thơ. Hư thực không biết “roa sao” nhưng có người bảo rằng Vinh cũng bị anh Dzoáng cà rỡn vì hành vi biến cái chổi thành vương trượng truyền ngôi báu thi ca nầy. Nói cho cùng thì Bùi Giáng vẫn là Bùi Giáng, không ai có thể là truyền nhân được. Vì sống điêu linh thơ mộng được như Bùi Thi Sĩ đã là chuyện vô cùng khó rồi, còn làm thơ lại càng khó hơn. Cái lối tung hứng chữ nghĩa độc nhất vô nhị nhiều khi tưởng như vô ngôn vô cùng vô thủy của thi sĩ lại có vô chừng ngữ nghĩa rập rờn âm thanh, lao xao như cào cào châu chấu đồng vọng mà nhiều khi đọc lên người ta cũng không hiểu gì ráo ngoài chuyện thấy vui vui vì cái ngôn ngữ trùng trùng điệp điệp thênh thang bí ẩn mà thi sĩ đã ảo hóa nổ như pháo hoa trong cái cõi đời rừng rú hoang vu buồn bã nhưng rất nhiều nụ cười thơ dại nầy, nơi mà thi sĩ “Ta cứ tưởng đến trần gian chơi một chốc/ Ai có ngờ ở mãi đến hôm nay.”  Nay thì Bùi Đại Vương đã đi rất lâu rồi, nhưng những giai thoại vẫn còn lai rai ở mãi trong cõi trần gian bi mộng nầy.

Trong những giai thoại về Bùi Thi Sĩ sau 1975 người ta thường hay viết về ông như một nhà thơ điên điên, áo quần rách nát dơ bẩn lang thang đầu đường xó chợ. Những bài viết thoạt nhìn có vẻ đầy thiện chí nhưng tổng hợp lại thì vô cùng chua chát thương hại nhiều hơn là tôn kính dành cho một nhà thơ. Một hình  ảnh méo mó dưới tay những cây bút nghiệp dư trên báo lá cải. Dưới mắt người đời ông trở thành một nhân vật tội nghiệp, và đôi khi cũng thật đáng ghét. Nên mới có chuyện đôi lúc ông bị ai đó vô lương đánh sưng mày sưng mặt. Bài viết nầy chỉ ghi lại một cảm nghĩ khác, một cách nhìn khác trong sự minh chứng của đời thường đối với một con người thi sĩ thực sự đáng trân trọng từ hình thức đến tài năng.

Nguyễn Tấn Cứ