• tác giả

Dương Nghiễm Mậu – Thanh Tâm Tuyền, những người bạn và tạp chí Sáng Tạo (Chương 2 [phần 2])

(Tiếp theo Chương 2 [phần 1])

10 – TẠP CHÍ SÁNG TẠO VÀ NHỮNG SỰ KIỆN

Sáng Tạo là tạp chí văn nghệ xuất bản hàng tháng, suốt trong 38 số báo được phát hành, người đọc nhận thấy tạp chí chuyên hẳn về văn học nghệ thuật. Vì thế có hai sự kiện xuất hiện trên tạp chí khiến người đọc phải chú ý:

1) Bản lên tiếng chung của tám tác giả, in nơi trang 1 số 12 tháng 9 năm 1957

Bản lên tiếng chung của tám tác giả Việt Nam gồm: Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo, Mặc Đỗ, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Vũ Khắc Khoan. Sau đây là nguyên văn bản lên tiếng:

“Chúng tôi, những tác giả Việt-Nam ký tên dưới đây, nhận thức:

–        Những ràng buộc tất nhiên giữa cá nhân tác giả và cuộc sống của toàn thể – những ràng buộc đó đòi hỏi ở tác giả ý kiến, thái độ hành động;

–        Trách nhiệm mặc nhiên của tác giả trước xã hội và lịch sử – trách nhiệm đó phải được công nhiên đảm nhận;

–        Giá trị của sự lên tiếng chung – đã đến lúc tiếng nói của từng tác giả cần phải kết hợp vì đòi hỏi và trách nhiệm chung;

Bởi vậy, tự ý liên kết để:

–        Thống nhất quan điểm, bày tỏ ý kiến, thái độ về những vấn đề cần đặt ra trong tinh thần tôn trọng tự do, độc lập của mỗi người;

–        Tranh thủ những điều kiện căn bản tự do độc lập thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của tư tưởng, văn chương, nghệ thuật.

Không nghĩ rằng công việc của chúng tôi có ảnh hưởng quyết định trong việc giải quyết những vấn đề, nhưng ít nhất cũng có giá trị một cố gắng của những người tha thiết với trách nhiệm, chúng tôi chân thành kêu gọi bạn đồng tình và viết bản văn này xác nhận sự có mặt của chúng tôi.”

Với người đọc, trước bản lên tiếng chung này hẳn có một câu hỏi được đặt ra: Tại sao bản lên tiếng chung không cho người đọc thấy lý do khiến tám tác giả phải lên tiếng? Vậy sự kiện ấy là gì? Nếu có một cuộc nghiên cứu về thời điểm sinh hoạt xã hội khi bản lên tiếng ra đời và báo chí lúc đó, có thể người đọc sẽ biết được nguyên do?

2) Bản thông điệp của tổng thống nhân ngày Thánh Đản Đức Khổng Tử (28-9-1960). Bản thông điệp được in trên Sáng Tạo số 4 bộ mới tháng 10 năm 1960

Về nội dung, thông điệp được đưa ra là để tưởng niệm Khổng Tử, và nội dung nhắc lại những tư tưởng của Khổng Tử. Bản thông điệp được in ở bìa 3 của tạp trí, trang bìa thường dùng để giới thiệu sách báo, trả lời thư bạn đọc.

11 – MỘT LÊN TIẾNG KHÁC

Tạp chí Sáng Tạo là một tạp chí chuyên về văn nghệ, những người chủ trương chừng như đã cố gắng để tạp chí không liên hệ với những biến động đương thời trong mọi lãnh vực. Một người đọc ở vào một thời điểm vài thập niên sau khi đọc tạp chí có thể sẽ tự hỏi: lúc Sáng Tạo có mặt thì xã hội miền Nam như thế nào, thế giới lúc đó như thế nào? Hẳn nhiên cũng có những chỉ dấu trả lời nhưng tất nhiên nó rất ít ỏi và không đầy đủ.

Trong Sáng Tạo số 4 tháng 1 năm 1957, ở trang 22 có in  bài thơ Hãy cho anh khóc bằng mắt em, những cuộc tình duyên Budapest của Thanh Tâm Tuyền, nguyên văn bài thơ như sau:

Hãy cho anh khóc bằng mắt em

Những cuộc tình duyên Budapest

Anh một trái tim em một trái tim

Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác .

Hãy cho anh giận bằng ngực em

Như chúng bắn lửa thép vào

Môi son họng súng

Mỗi ngã tư mặt anh là hàng rào

Hãy cho anh la bằng cổ em

Trời mai bay rực rỡ

Chúng nó say giết người như gạch ngói

Như lòng chúng ta thèm khát tương lai

Hãy cho anh run bằng má em

Khi chúng đóng mọi miền biên giới

Lùa những ngón tay vào nhau

Thân thể anh chờ đợi

Hãy cho anh ngủ bằng trán em

Đau dấu đạn

Đêm không bao giờ không bao giờ đêm

Chúng tấn công hoài những buổi sáng

Hãy cho anh chết bằng da em

Trong giây xích chiến xa tội nghiệp

Anh sẽ sống bằng hơi thở em

Hỡi những người kế tiếp

Hãy cho anh khóc bằng mắt em

Những cuộc tình duyên Budapest

Cuối bài thơ ghi 12-56 (tức tháng 12 năm 1956).

Tạp chí Sáng Tạo số 6 tháng 3 năm 1957 có đăng bài tùy bút của Mặc Đỗ, bài viết có tựa đề: Nem  Hiaba Haltak Meg. Bài viết mở đầu:

Một dòng chữ nguệch ngọac viết vội trên một mảnh giấy dài, vắt ngang một thây người nằm co bên hè phố, giũa cảnh hoang tàn: Nem hiaba haltak még! Hắn không chết uổng (hình của một hãng thông tấn, có in trên nhiều báo). Đành rằng thế. Bất kỳ một thanh niên Hung nào vơ lấy một mẩu khí giới và lao mình xuống phố mà không nghĩ rằng mình không đi vào một cái chết uổng. Nhưng, khi tiếng súng đã êm, những người chết đã chết, dòng đời lại điềm nhiên chảy, thế giới lại tíu tít với những vấn đề, chúng ta nghĩ gì về cái chết của những chàng trai Budapest? Nem hiaba haltak még? Có thật như vậy không?

Những ngày tháng Mười, tháng Một, tháng Chạp 1956, chúng ta đã làm gì? Trong khi những người tuổi trẻ, những bậc lão niên, những phụ nữ, và cả những em thiếu nhi Budapest vùng lên đem đức tin ở lẽ phải của mình ra chống chọi với súng đạn và thiết giáp…

Bài thơ của Thanh Tâm Tuyền và bài tùy bút của Mặc Đỗ cho người đọc được biết về cuộc nổi dậy của nhân dân Hung đòi độc lập và tự do không phải như một bản tin thời sự quốc tế mà là một sáng tác văn học. Đây là một sự kiện duy nhất người đọc thấy được trên tạp chí Sáng Tạo.

Từ Sáng Tạo số 1 tháng 10 năm 1956  cho tới số 7 bộ mới tháng 9 năm 1961, trong suốt thời gian ấy không thiếu những sự kiện đã diễn ra, ngay cả những sự kiện liên quan tới văn nghệ và tự do sáng tác. Như sự kiện xẩy ra tại Hà Nội: Giai Phẩm Mùa Xuân vì đăng bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần đã bị tịch thu; Hội Văn Nghệ tổ chức phê bình, lên án; Trần Dần bị bắt giam. Sau đó báo Nhân Văn ra đời với những tên tuổi như: Phan Khôi, Trần Duy, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Phùng Quán… ra được 5 số thì có lệnh đình bản, một số tên tuổi bị bắt giam va truy tố… Những sự kiện này đã được báo chí thông tin.

Trên Đặc San Bút Việt số mùa xuân 1958 của Nhóm Bút Việt (P.E.N Việt-Nam ) xuất bản tại Sài gòn, Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết một bài tùy bút: Sao lại thế được? Trước khi viết về những kỷ niệm với Phan Khôi, tác giả ghi ở trên bài viết: “Nhân dịp nhà văn lão thành Phan Khôi bị Cộng Sản đàn áp. Và để góp vào cuộc tranh đấu cho lý tưởng “tự do”.

Về sự kiện vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, tác giả Hoàng Văn Chí đã ghi lại diễn biến của sự việc và giới thiệu những tác phẩm và tác giả đã tham dự vào sự kiện này trong cuốn Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, do Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa xuất bản tại Sài gòn năm 1959.

Sự kiện vụ án Nhân Văn Giai Phẩm không có ghi nhận nào trên tạp chí Sáng Tạo.

Nhưng có một sự kiện khác trong đời sống văn nghệ thế giới đã được nói tới, đó là sự kiện nhà văn Nga Boris Pasternak được trao giải Nobel văn chương năm 1958 với tác phẩm Docteur Jivago. Trong mục Qua Các Bộ Môn Văn Nghệ trên Sáng Tạo số 26, tháng 11 năm 1958 tác giả Vương Tân viết:

Năm nay Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã quyết định trao giải thưởng văn chương cho nhà văn Nga là Boris Pasternak với cuốn Docteur Jivago Thái độ của chính quyền Nga đối với việc Boris Pasternak được Nobel thật đáng cho ta chú ý. Chính quyền Nga tỏ vẻ lạnh  nhạt và cố ý ngăn cấm Boris Pasternak đi lãnh thưởng, đồng thời báo chí cộng sản cho rằng việc phát thưởng Nobel cho Boris Pasternak là một âm mưu chính trị và tố cáo Pasternak là một nhà văn trốn tránh cuộc đấu tranh của dân tộc. Điều đáng chú ý hơn nữa, cuốn Docteur Jivago bị cấm lưu hành ở Nga (…) Boris Pasternak là một văn sĩ thuộc thế hệ tiền cách mạng vô sản, bạn thân của những Essenine, Maiakosky nhưng không ưa cộng sản. Boris Pasternak sinh trưởng trong một gia đình nghệ sĩ, có học đại học ở Mạc Tư Khoa, du học ở Đức, Pháp, Ý ( lấy vợ người Ý). Boris Pasternak sống gần như bị bỏ quên, ông ở một trang trại nhỏ cách Mạc Tư Khoa mười cây số, ngày ngày âm thầm sáng tác nhưng không hề phổ biến tác phẩm ở Nga.

Năm 1957, có một nhà báo Tây Phương gặp Boris Pasternak hỏi ông hiện đang làm gì thì ông cho biết “đọc Thánh Kinh và sáng tác”. Đầu năm nay Boris Pasternak cho phát hành ở Pháp cuốn Docteur Jivago, một trường thiên tiểu thuyết dầy hơn năm trăm trang diễn tả bối cảnh, tâm trạng nước Nga thời cách mạng và nội chiến có một không khí phảng phất văn chương Tolstoi và Dostoievski với luận đề “chủ nghĩa Mác xít chỉ là một cứu cánh nhất thời của dân tộc Nga”.

Việc Boris Pasternak được phát thưởng Nobel về văn chương đã gây ra nhiều chuyện lôi thôi rắc rối cho ông. Đảng cộng sản Nga đã ra lệnh cho Liên Đoàn Các Nhà Văn Nga sô trục xuất và khai trừ Boris Pasternak khỏi đoàn thể. Ông bị cô lập và tước đoạt tự do. (…)

Hành động tàn bạo của nhà cầm quyền Nga sô với Boris Pasternak đã gây ra nhiều phẫn nộ trong giới văn nghệ và trí thức toàn thế giới. Các nhà văn Thụy Điển gửi điện văn yêu cầu nhà cầm quyền Nga tôn trọng sự tự do của Boris Pasternak. Hội Văn Bút quốc tế yêu cầu Hiệp hội các nhà văn Nga bảo vệ Boris Pasternak. Một số các văn sĩ, triết gia và bác học người Anh, trong đó có nhiều người đã từng được giải Nobel ký vào một bản kiến nghị  gửi Hiệp hội các nhà văn Nga.(…) Ký tên ở bức kiến nghị có: Sommerset Maugham, Bertrand Russel, T.S. Eliot, Aldou Huxley…

12 – QUA CÁC BỘ MÔN VĂN NGHỆ.

Bắt đầu từ số 3 tháng 12 năm 1956 tạp chí Sáng Tạo có mục “Qua các bộ môn văn nghệ”, có thể coi đây như một mục sinh hoạt văn nghệ, nhưng với số trang ít ỏi mục này phần lớn dành cho những bài điểm sách ngắn, giới thiệu các phòng triển lãm hội họa, còn những sinh hoạt khác ở trong nước và quốc tế thường chỉ là những mẩu tin ngắn lướt qua không có nội dung. Tuy nhiên mục này cho dù ngắn gọn, những ý kiến đối với những sự kiện cụ thể đã giúp cho người đọc thấy được rõ hơn ý tưởng mà tạp chí theo đuổi. Trước hết chúng ta cùng đọc sách với Mai Thảo qua tập truyện ngắn Chữ tình của Võ Phiến, in trong Sáng Tạo số 7 tháng 4 năm 1957, trang 55:

Ngay cả ở nơi thiếu vắng hoàn toàn không khí tinh khiết và hơi thở thơm lành của thiên nhiên và tự do , đời sống con người vẫn có những thế giới những xã hội riêng. Vẫn có những mâu thuẫn. Vẫn có những thảm kịch. Lê Nọ, Huỳnh Thiện Thủ, Hòe và đến cả Linh nhân vật duy nhất của Chữ Tình đứng ở bên kia cửa sắt (nhưng cũng đã nằm trong một tù ngục vô hình) qua những ngày tháng lê thê, giữa hai hồi kẻng tù, vẫn sáo động dày vò bởi những băn khoăn, những đau đớn và những ước vọng như chúng ta. Một người yêu dấu. Một mái nhà cũ. Một giấc mộng đẹp… Võ Phiến đã sống với những con người ấy (…) Tôi chỉ muốn đi tới một nhận xét: Con người nói chung ở đâu và bao giờ trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình cảm vẫn là một thực thể trường tồn và bất khả xâm phạm. Để những tên đao phủ cộng sản biết chúng không bao giờ thực hiện được âm mưu hủy diệt tình cảm, và chế biến nổi người thành những lũ người máy.

Điểm đáng khen ngợi nhất của Võ Phiến trong Chữ Tình không phải ở cốt truyện gây cấn, đặc biệt, mà ở chỗ đã nói lên được tính chất “người” đó, theo ý tôi. Đọc Võ Phiến ở đây, bối cảnh, thời và không gian chỉ là thứ yếu. Chính yếu là cái thế giới nội tâm của mỗi nhân vật.

Về hình thức, Chữ Tình giới thiệu Võ Phiến qua một lối hành văn bình tĩnh và chừng mực. Anh điều khiển ngòi bút tỉnh táo tuy đôi chỗ rời rạc thiếu lôi cuốn, và rõ rệt là có dụng ý đi tới một lối diễn tả riêng. Cuối cùng tôi nghĩ tới những vùng đất đai cằn cỗi của miền Trung. Văn và tâm hồn Võ Phiến có nhiều sắc thái địa phương.

Một năm sau, trên Sáng Tạo số 16 tháng 1 năm 1958 trang 55, Nguyễn Đăng, một bút hiệu khác của Mai Thảo, đọc tác phẩm thứ hai của Võ Phiến, đó là tập truyện ngắn Người tù, vẫn do nhà Bình Minh xuất bản tại Bình Định. Nguyễn Đăng viết:

Với văn phẩm đầu tay là tập truyện ngắn Chữ Tình, đã xuất bản, người đọc đã vui mừng tìm thấy ở Võ Phiến một cây bút sở trường về thể truyện ngắn có rất nhiều triển vọng. Từ lối nhận xét tinh tế đến lối thể hiện, đơn giản, đúng độ. Từ cách thức xây dựng cốt truyện đến gây không khí, nhân vật. Võ Phiến đã tạo được một nghệ thuật vững vàng, đã làm chủ được ngòi bút của mình. Người Tù, tập thứ hai được in ra, đã chứng minh thêm điều nhận xét trên đây. Sự đều tay tìm thấy giữa hai tác phẩm có nghĩa là tác giả đã giữ vững được sắc thái riêng biệt của ông và vấn đề chỉ còn phải đặt ra, nếu cần, ở chỗ phát triển sắc thái đó càng ngày càng thêm sâu đậm. Ví như một người nhận đường đã tìm thấy hướng tốt, chỉ còn việc mở rộng và đi xa đi mạnh hơn. Đọc Chữ Tình với một cảm tưởng tốt đẹp, đọc Người Tù, tôi đã yên tâm và tin tưởng…

Trên tạp chí Sáng Tạo về phần những sáng tác mới của những tác giả thời tiền chiến người đọc chỉ thấy có Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương. Sau năm 1954 những tác giả thời tiền chiến di cư vào Nam không phải chỉ có hai người, nhiều tác giả vẫn sáng tác và có những tác phẩm mới đã đượcxuất bản, trên tạp chí Sáng Tạo người đọc đã thấy một số tác phẩm được giới thiệu. Trước hết là bài điểm  thơ  Bàng Bá Lân, một tác giả nổi tiếng thời tiền chiến.

Sáng Tạo số 14 tháng 11 năm 1957, trang 52, có bài viết về Tiếng võng đưa, thơ Bàng Bá Lân,  Nguyễn Hiến Lê xuất bản. Người đọc: Nguyễn Đăng:

Chúng ta không thể phủ nhận giá trị thơ Bàng Bá Lân, ngay cả những lúc chúng ta thấy thiếu hẳn những nguồn sinh lực trẻ mạnh trước tình trạng quẩn quanh của thi ca Việt-Nam hiện đại. Cố nhân vẫn có một chỗ đứng giữa chúng ta. Thơ cố nhân vẫn được chúng ta dành cho những cảm tình đối với một người thân cũ (…) Tôi tưởng nhà thơ của Tịch Mịch, của Cổng Làng, của Ổ Rơm (tựa của Lê Văn Siêu) đã làm thơ về Cổng Làng, Ổ Rơm, Tịch Mịch qua bốn năm tập thơ như thế là quá đủ rồi. Một nguồn cảm hứng khai thác mãi cũng phải cạn, tới lúc làm người đọc hết ngạc nhiên. Tôi không tin tâm hồn Bàng Bá Lân chỉ biết rung động trước ngần ấy thứ. Chỉ thấy có thơ trong ngần ấy thứ. Sự vật ở đâu cũng đều có cái đẹp cái thơ của nó. Nhịp ru đất mẹ không phải chỉ là nhịp võng.(…)

Tiếng Võng Đưa vẫn y nguyên dáng điệu những tập thơ trước. Tập thơ chia làm ba phần vì sự khác biệt của đề tài. Tôi muốn tìm một cái gì mới lạ để nói nhưng không thấy. Trái lại, những bài thơ vịnh trái cây dưới đầu đề Thơ Miền Nam đã làm tôi thất vọng. Bàng Bá Lân đã trở nên quá dễ dàng với nghệ thuật, với chính ông. Tên tuổi của ông không cho phép ông được đứng lại như vậy.

Trên Sáng Tạo số 13 tháng 10 năm 1957 nơi trang 56, Nguyễn Đăng đọc tiểu thuyết Chiếc áo cưới màu hồng của Nguyễn Vỹ, một tác giả tiền chiến khác. Nguyễn Đăng viết:

Nếu có một ông thầy tuồng cắt sén thành hồi, thành lớp để dựng thành kịch, thêm sáu câu lý, đầy đủ yếu tố một chuyện diễm tình được sắp đặt trên một bối cảnh thời đại tao loạn. Điều đáng tiếc là nó thiếu hẳn tính chất nghệ thuật. Ở một tác giả như Nguyễn Vỹ, sự thiếu sót này làm tôi hết sức ngạc nhiên. Tôi không bao giờ muốn nghĩ tác phẩm của ông cũng như những tiểu thuyết diễm tình đầy rẫy ở các hiệu sách, viết chỉ cốt chiều theo một số thị hiếu tầm thường của độc giả. Nhưng mà Chiếc Áo Cưới Màu Hồng, mặc dầu đoạn kết “xây dựng”có hậu của nó, vẫn không thể xem như một công trình nghệ thuật.

Vi Huyền Đắc, một tên tuổi không xa lạ, thời tiền chiến với vở kịch Kim Tiền đã ghi tên ông vào hàng ngũ những kịch tác gia nổi tiếng. Di cư vào Nam ông tiếp tục sáng tác và dịch thuât. Ông đã cho xuất bản tác phẩm Thành Cát Tư Hãn. Trên tạp chí Sáng Tạo số 3 tháng 12 năm 1956, Trần Lê Nguyễn đã đọc tác phẩm này:

Đồng cỏ miền cao nguyên Á Tế Á mênh mông như ý muốn xâm chiếm của quân Mông Cổ (…) Vó ngựa vang lên. Cờ xí trẩy quân rợp đất. Cát mù…

Đô thị này đến đô thị khác rơi vào tay quân Mông Cổ trên đường Tây Tiến. Máu sông lên tanh, tởm, giữa tiếng kêu khóc, rên la. Văn hóa văn nghệ bị vùi dập. Giết sạch kẻ chống cự và giết sạch cả người quy thuận. Nhưng chém giết khủng khiếp ngay những người đi chém giết. Và cả Thành Cát Tư Hãn, con người tự cho mình có uy lực nhất thế gian cũng thấy không thể làm yên lòng người vợ ghê sợ chiến tranh, không thể cứu được cái chết bất đắc kỳ tử của con thơ, trong khi trái đất vẫn còn bao la, sau nhiều năm chinh chiến, bờ đại dương bên kia vẫn còn xa lắc. Rồi, lâu đài, lụa là, châu báu… không còn có nghĩa gì với Thành Cát Tư Hãn thì một người đàn bà bên phản nghịch hiện đến: Mỵ Cơ. Lòng căm phẫn của kẻ bị đàn áp đã biến nhan sắc thành gươm đao. Và Đại Hãn của các dân tộc Mông Cổ đã ngã gục trước người đàn bà dân Tây Hạ.

Tôi đã nghĩ nhiều hơn cảm khi đọc Thanh Cát Tư Hãn. Thế kỷ này đã làm Vi Huyền Đắc phải mượn lịch sử để treo một bức tranh thời đại? Và cũng vì vậy, người đọc phải nghĩ mệt hơn là được truyền cảm. Đấy có phải là nhiệm vụ của một tác phẩm văn nghệ, dù là kịch?

Về tác phẩm của những tác giả tiền chiến được điểm trên tạp chí Sáng Tạo còn có tập tâm bút của Hoài-Đồng-Vọng, một bút hiệu khác của nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh.

Trên tạp chí Sáng Tạo số số 12 tháng 9 năm 1957 trang 53, Mai Thảo giới thiệu tâm bút Ai có qua cầu của Hoài-Đồng-Vọng, do nhà Quan Điểm xuất bản. Mai Thảo viết:

Từ hình ảnh “cúi đầu sao khóc bể chán chường” của người tự tử đến phản ứng hồn nhiên tức khắc của người đi chữa cháy – giữa hai biểu tượng cực đoan – tôi tìm thấy hệ thống suy diễn tư tưởng Ai Có Qua Cầu của Hoài-Đồng-Vọng. Cố nhiên là hết sức tổng quát. Truy tìm nguyên lý của từng vấn đề đã được đem hai cái bóng mang ra tranh luận đòi hỏi một bài viết có thể dài hơn cả chính cuốn sách (…) Ý chính tôi thấy là: mặc dầu đắm chìm trong một hiện trạng nào đen tối u uất đến đâu con người vẫn cứ tượng trưng cho một ngọn đuốc cháy, nó điển hình cho một ý thức quyết định: muốn bỏ đêm về ngày lúc nào cũng thấy, cũng được. Chúng ta không bao giờ chịu vui lòng với thân phận những nhân vật khổ đau chỉ biết thở than và bó tay nhẫn nhục trước hoàn cảnh. Giờ phút có thể cực kỳ bi quan nhưng nhất định không có giờ thứ hai mươi lăm (…)  Bởi vậy mà theo tôi, về phía tiếp nhận của người đọc, Ai Có Qua Cầu hàm chứa  một tác dụng tốt đẹp. Những chuyện buồn của một vở kịch vui. Chỉ cần đọc cẩn thận và tìm ra được ngọn ngành của một hệ thống suy diễn, lúc phơi mở, lúc chứa dấu – kỹ thuật diễn tả đặc biệt của Hoài-Đồng-Vọng – là tức khắc gặp được nụ cười và niềm tin vui ấy. Đó cũng là nụ cười, niềm tin vui của người đau rồi khỏe, hấp hối đã sống lại, và lên đường.

Sáng Tạo số 13 tháng 10 năm 1957 và số 14 tháng 11 năm 1957 đã giới thiệu hai tập truyện ngắn của nhà xuất bản Hướng Dương: Chiếc áo màu thiên thanhTình hương dạ lý.

Nguyễn Đăng viết: “Trước bất cứ một tập sách nào mà nội dung là một công trình sáng tác tập thể, sự phê bình giới thiệu chỉ có thể gói tròn trong một nhận xét đại cương. Bài viết ngắn không cho phép đi sâu vào từng tác giả, phân tích tường tận tỉ mỉ từng sáng tác, xác định đúng mức bản chất, giá trị của mỗi tác giả mỗi sáng tác. Chiếc Áo Màu Thiên Thanh cũng là một công trình tập thể. Và đây là một nhân xét đại cương: gồm những truyện ngắn của Lê Vĩnh Hòa, Ngọc Linh, Tiêu Kim Thủy, Viễn Phương. Ưu điểm của nó là một đóng góp chung. Ghi theo, sự cố gắng đáng khen ngợi của nhà xuất bản trong ấn loát phẩm mở đầu. Trình bày trang nhã (…) Phần nội dung bốn tác giả đã gặp nhau ở lối hành văn tả thực, sự xây dựng cốt truyện đơn giản. Qua những người chủ trương và những người cộng tác với nhà xuất bản, chúng ta có thể lượng đoán một việc làm có tổ chức quy mô, có tương lai và do đó sẽ cống hiến được những tác phẩm có giá trị hơn.

Tới tập truyện Tình hương dạ lý, tác phẩm thứ hai của nhà Hướng Dương, với các tác giả Tạ Tỵ, Sài-Giang, Lưu Nghi, Lê Vĩnh Hòa, tác giả Nguyễn Đăng viết: “Tình Hương Dạ Lý chỉ là sự tập hợp tự nhiên của một số sáng tác. Nó không phải là một tuyển tập nói về tình thương. Nói chung như Chiếc Áo Màu Thiên Thanh đã xuất bản tháng trước, tập sách xinh nhỏ, hình thức trang nhã. Những người viết thận trọng. Hành văn của Lưu Nghi ngắn gọn có quan sát. Tạ Tỵ văn hoa bay bướm hơn. Lê Vĩnh Hòa nhiều tình cảm nhất. Sài-Giang còn nhiều tính chất lãng mạn. Khuynh hướng tả thực có chung không ở lối hành văn, ở kỹ thuật mà ở những đề tài đều được khai thác trong thực tế xã hội, với mục đích phơi mở trước ánh sáng những cảnh ngộ tăm tối, những nếp sinh hoạt lao động hàng ngày ngoài lề đường, trong ngõ hẻm. Nhưng tính chất xếp đặt còn quá rõ rệt. Một mặt các tác giả còn vướng trong kỹ thuật, một mặt nội dung sáng tác đưa ra chưa phản ảnh được đầy đủ cái uyển chuyển, cái linh động của sự sống cho nên nhiều chỗ cứng nhắc và công thức. Bởi vậy xét về mặt giá trị tả thực, Tình Hương Dạ Lý chưa thể coi như một sự thành công.

Sáng Tạo số 20 tháng 5 năm 1958, Nguyễn Đăng giới thiệu truyện dài Trăng nước Đồng Nai của Nguyễn Hoạt. Đây là tác phẩm mà nội dung nói tới cuộc di cư của những người miền Bắc vào Nam năm 1954 và cuộc hội nhập của họ vào vùng đất mới, mà tác giả cũng là một người di cư. Nguyễn Đăng viết:

Từ lâu tôi vẫn chờ đợi một tác phẩm dài thể hiện được linh động và đầy đủ những sắc thái điển hình nhất về cuộc sống mới của lớp  người miền Bắc tới đây sau biến cố chia cắt đất nước. Cuộc tiếp xúc chưa từng thấy của miền Bắc với miền Nam phát sinh ở từng cá nhân, những trạng thái tình cảm và tâm lý mới, và trong cuộc sinh hoạt toàn thể, những hiện tượng đặc biệt mà chúng ta có bổn phận ghi lại bằng những tác phẩm lớn. Đó là những chứng tích thời đại và lịch sử không thể bỏ qua. Với Trăng Nước Đồng Nai, Nguyễn Hoạt đã đi vào cái đề tài chính yếu đó. Cuốn sách 300 trang, chữ nhỏ, có một chiều dày đáng kể. Tiếc thay giá trị nghệ thuật của nó lại không tương xứng. (…) Hơi văn dồi dào và vốn sống phong phú của tác giả là hai yếu tố cho phép chúng ta chờ đợi ở ông những tác phẩm thành công hơn.

Trong mục “Qua các bộ môn văn nghệ”, số sách được giới thiệu khoảng trên 50 cuốn, phần lớn là những sáng tác phẩm. Trong số đó có những tác phẩm của những tác giả đã xuất hiện từ trước thời điểm 1954 như: Xác Lá Rừng Thu, thơ của Diên Nghị, Người Nữ Danh Ca và Hồng Ngọc của Thanh Nam, Người Đi Qua Lô Cốt của Tô Kiều Ngân, Bão Rừng của Nguyễn Văn Xuân, Trên Vỉa Hè Saigon của Triều Đẩu…

Sáng Tạo giới thiệu nhiều tác phẩm của nhóm Quan Điểm. Quan Điểm là diễn đàn của những cây bút đề cao vai trò của người trí thức tiểu tư sản. Những tác phẩm được giới thiệu như: Một nhân chứng của Vương Văn Quảng, Đi tìm một căn bản tư tưởng của Nghiêm Xuân Hồng, Bốn mươi, Siu cô nương của Mặc Đỗ, Thần tháp rùa của Vũ Khắc Khoan.

Trên Sáng Tạo số 18 tháng 3 năm 1958, Mai Thảo đọc và giới thiệu Thần tháp rùa của Vũ Khắc Khoan như sau:

Tác phẩm gồm bốn truyện ngắn: Thần Tháp Rùa, Trương Chi, Nhập Thiên Thai, Người Đẹp Trong Tranh. Nhìn toàn thể, điểm đáng cho ta chú ý trước hết là tính đồng nhất của nội dung tập sách, mặc dù mỗi truyện được viết cách nhau hàng năm. Điều này chứng tỏ tác giả trước sau giữ vững một lập trường, một mục đích nhất định. Trong sáng tác, mục đích ấy đã được thể hiện chân thành và trang trọng nhờ một lối hành văn công phu – tưởng như mỗi chữ, mỗi dấu chấm, phẩy đều được cân nhắc chọn lựa – đến lối bố cục cốt truyện tỷ mỉ – nhiều chỗ phảng phất kỹ thuật điện ảnh. Tác phẩm đã tạo được cái không khí riêng biệt của nó, vàng son và quý phái. (…)

Đọc Thần Tháp Rùa, ngoài bình diện nghệ thuật chúng ta còn thấy tác giả dụng ý thể hiện một quan điểm chính trị: đó là lập trường và thế đứng người tiểu tư sản. (…) Ở đây tôi chỉ nêu ra một điểm. Điểm này có thể đặt thành vấn đề thảo luận. Đó là lối kể (version ) mà tác giả đưa vào ba câu chuyện cổ. Tôi không nói tới lối giải thích hay bình luận những chuyện cổ ấy của tác giả, vì đi xa hơn, nhằm chứng minh một quan niệm chính trị tác giả đã không ngần ngại thay đổi hẳn lại nội dung, đã đứng im của mấy câu chuyện cổ. Có thể nói là những thay đổi căn bản. (…) Ở Vũ Khắc Khoan sự thay đổi cốt truyện có thể vì một mục đích cách mạng. Nhưng tôi muốn đặt một câu hỏi: Liệu cách mạng có nên và có thể phá bỏ được những pho truyện cũ đã hoàn thuộc vào di sản tinh thần của lịch sử và của toàn thể ấy không? Vì tôi thấy rằng mặc dù sự táo bạo, lối giải thích thông minh, lối xếp đặt khoa học, mặc dầu tất cả công phu của tác giả – cho là thành công đi nữa – anh Trương Chi, anh Tú Uyên mới vẫn không làm tôi quên được anh Trương Chi, anh Tú Uyên cũ, câu truyện cổ với không khí huyền ảo, những nét đẹp hoang đường của nó. Nên hay không là thế.

Trên Sáng Tạo số 15 tháng 12 năm 1957, một tác phẩm khác của nhóm Quan Điểm được giới thiệu. Nguyễn Đăng đọc tiểu thuyết Bốn mươi của Mặc Đỗ. Nguyễn Đăng viết:

Một tiểu thuyết có tính chất luận đề. Những nếp sinh hoạt và những nhân vật điển hình. Mặc Đỗ muốn đưa ra một mẫu người mới: con người trí thức tiểu tư sản – trong truyện là Lê – tuy sống đầy đủ phong lưu, nhưng giác ngộ bởi một tinh thần tiến bộ, đã băn khoăn trước những vô lý của thời đại. Tóm lại một con người toàn diện sống “trọn” đời sống tình cảm và tinh thần mình. (…) Phải nói là để thể hiện một luận đề qua hình thức tiểu thuyết, trước hết cốt truyện không tương xứng và Mặc Đỗ chưa xóa bỏ được hoàn toàn những dấu vết của một sắp đặt còn thiếu tự nhiên (…) Tình tiết thiếu phần đột ngột kìm giữ một hơi văn đã mất phóng túng. Để sau cùng, mấy trang bạt cũng không hơn gì một sự rào đón khéo léo.

Sau cuốn tiểu thuyết Bốn mươi, Mặc Đỗ cho in cuốn tiểu thuyết thứ hai, Siu cô nương, nhà Quan Điểm xuất bản. Sáng Tạo số 30 tháng 5 năm 1959, Thanh Tâm Tuyền đọc cuốn tiểu thuyết Siu cô nương và viết bài phê bình: Trí thức làm dáng:

Trong tình trạng nghèo nàn của tiểu thuyết Việt-Nam có được một người viết tiểu thuyết đứng đắn lương tâm như Mặc Đỗ thật là quý. Hai năm in hai tác phẩm (1957 Bốn Mươi, 1958 Siu Cô Nương) công trình làm việc kỹ lưỡng với mục đích hết sức tốt đẹp là làm mới tiểu thuết Việt-Nam từ đề tài cho đến kỹ thuật hầu theo kịp trào lưu tiến hóa của tiểu thuyết Âu Châu. Nhưng phải thành thật nhận rằng hai lần cố gắng của ông là hai lần thất bại không xứng đáng với tài của ông.

Với Siu Cô Nương Mặc Đỗ muốn viết một cuốn tiểu thuyết về trí thức Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử – Hà nội, 1954 trước hiệp định Geneve. (…) Điểm thất bại của Mặc Đỗ không phải là vì ông đã chọn các nhân vật của ông ở trong giới trí thức – chính trị gia, luật sư, văn sĩ, kịch sĩ – mà chính là vì những nhân vật trí thức của ông không trí thức một chút nào, tôi gọi là những người trí thức làm dáng. (…) Siu Cô Nương của Mặc Đỗ gồm những nhân vật trí thức không muốn giam mình trong đời sống thường, họ muốn sống đời sống trí thức – nhất là trong hoàn cảnh lịch sử bi đát là năm 54. Nhưng đời sống thường ngày của họ thì nghèo nàn, có lẽ đó là cớ  khiến họ vươn đến đời sống trí thức nhưng ở cái thế giới này họ lại càng tỏ lộ sự  nghèo nàn hơn nữa (…)

Sự hời hợt của tất cả nhân vật trong Siu Cô Nương làm cho tác phẩm hiện rõ từng mảnh lắp dù kỹ thuật xây dựng kết cấu tiểu thuyết mới, Mặc Đỗ tỏ ra nắm vững. Biến cố Geneve không cần thiết, đời sống của đám trí thức của Siu trước hay sau đó vẫn không nhập được vào dòng sống, họ chập chờn như những bóng ma, không mặt mũi, không hình dáng, không cá tính (khác tên và khác nghề nghiệp mà thôi) họ lưu động trong những khoảng không gian trần trụi, quán rượu, phòng việc, nhà tù, nhà hát, đường phố không thành hình thù gì hết chỉ là những tên gọi chỉ định trống không. (…) Sự thất bại của Mặc Đỗ chính là cho đến bây giờ – ở Bốn Mươi cũng như ở Siu Cô Nương – ông chưa bao giờ hoài nghi sự chân thành của tâm hồn ông.

Tôi rất bất mãn với tôi khi phải cầm bút phê bình Mặc Đỗ. Vì đối với tôi, ông là một nhà văn đứng đắn lương tâm hiếm có trong văn chương chúng ta. Nhưng tôi không thể làm khác được vì tôi không muốn cũng làm dáng như những nhân vật của ông.

Trước khi tạp chí Sáng Tạo ra đời, Thanh Tâm Tuyền và Quốc Sỹ đã có tác phẩm do Người Việt xuất bản. Trước hết chúng ta đọc bài giới thiệu Tôi không còn cô độc của Thanh Tâm Tuyền do Hàm Thạch viết trên Sáng Tạo số 3 tháng 12 năm 1956:

Tập thơ Thanh Tâm Tuyền đến với tôi xao động như một cơn trở gió mang sắc màu cho một ngày thu nhiệt đới, mở toang như một cuộc cách mạng đang lên hình, âm thầm như những người đang sửa soạn nó (…) Thanh Tâm Tuyền làm cách mạng bằng thơ, đúng thế. Bắt đầu ở nơi anh, để giải thoát tâm hồn khỏi nhà ngục tâm hồn. Cái đau nhục của Thanh Tâm Tuyền trước hết ở chỗ: con người văn nghệ yếu đưới tin tưởng ở vạn năng thiên thần của cách mạng là anh, mang một khối óc quá nặng và một con tim quá rộng. Là con đẻ của đám đông, anh sẽ chết buồn trong cô độc. Anh phải hô to vào tai anh: “Tôi không còn cô độc” để được thấy mình ở môi trường đã chọn lựa. Đọc thơ Thanh Tâm Tuyền, tôi đau một cái đau khỏe mạnh và rộng rãi. Hãy lượm những mảnh giấy sô lệch ném tung giữa đời, lấy giây thép gai dùi khâu thành một cuốn sách, lấy máu và bùn vỗ vào những trang sách (…) Nếu như cách mạng là xô nhanh một thế bất quân bình để tìm một trạng thái thăng bằng, nếu như cách mạng không có thỏa hiệp và ngó lại sau lưng, lo cho Hung Gia Lợi chừng nào, tôi lo Thanh Tâm Tuyền chừng ấy. Bởi vì thơ Thanh Tâm Tuyền là cách mạng. Rút bỏ cách mạng, thơ anh không còn là thơ nữa.

Sáng Tạo số 4 tháng 1 năm 1957, Hàm Thạch đọc Sợ lửa của Quốc Sỹ:

Tôi đi vào “Sợ Lửa” của Quốc Sỹ không bỡ ngỡ, mà trái lại. Không phải vì tôi đã được đọc Quốc Sỹ và một số sáng tác trong “Sợ Lửa” trước khi nó ra đời. Người ta luôn luôn muốn đọc lại Quốc Sỹ hoặc chỉ để đọc không thôi, hoặc để suy tưởng ít điều: Tác phẩm của anh có một công dụng thường xuyên, phong phú và phức biệt đối với một số tuổi trời.

Nói rằng “Sợ Lửa” phi thời gian thì không đúng (Tôi vẫn không thỏa mãn với danh từ Truyện Cổ Tích) . Sau cái bề ngoài có vẻ muốn trộn lẫn quá khứ, hiện tại với vị lai, ta vẫn thấy Quốc Sỹ nặng mang cái đau nhục của hiện tại. Có điều anh muốn thần thánh hóa cái đau nhục của anh trong dòng thiên kỷ. Tôi tin rằng Quốc Sỹ đã thành công và không có một thứ lửa nào có thể thiêu cháy được chất oan cừu tinh lọc đó. Khởi đầu anh đã sẵn sàng tha thứ và như thế tước trọn khí giới kẻ địch (…) Nhưng “Sợ Lửa” tự nhiên còn có một tầm giá trị vượt nó. Nơi quê hương lôi cuốn trong vòng họa đọa đầy, truyện cổ tích ngày một tàn tạ, Quốc Sỹ  nhắc ta uống vào một ngọn suối mát thơm bỏ quên trong lau lách, sau khi đã bồi bổ cho ngọn suối đó một nguồn sinh lực mới.

Về sinh hoạt hội họa, Sáng Tạo đã có nhiều bài viết giới thiệu các cuộc triển lãm lớn gồm nhiều họa sỹ tham dự với những chuyên ngành khác nhau, những khuynh hướng khác nhau. Bên cạnh đó là những triển lãm cá nhân của những họa sỹ như: Tạ Tỵ, Thuận Hồ, Trần Đình Thụy, Nguyễn Văn Phương, Bon Nguyên, Văn Thịnh, Lê Thy, Hồ Thị Linh, Phạm Kim Khải, Võ Minh Nghiêm, Trần Văn Thọ, Đình Trọng, Huy Tường, Văn Đen, Thái Tuấn, Bé Ký, Duy Thanh, Nguyễn Văn Quế, Hà Hồng Liên…

Sáng Tạo số 6 tháng 3 năm 1957, Thái Tuấn viết về phòng triển lãm hội họa của Tạ Tỵ như sau:

Điều mà người ta để ý đến hơn hết ở những bức tranh của họa sỹ Tạ Tỵ là màu sắc. Phần nhiều đều tươi vui, trẻ trung và được cân nhắc, chọn lọc rất khéo léo và thận trọng.

Nhìn những bức họa người ta có cảm giác thoải mái dễ chịu. Tất cả đều êm đềm trau chuốt. Tôi có cảm tưởng anh chọn lọc màu sắc của anh như một phú ông nâng niu của cải và châu báu của mình. Sự huy hoàng của màu sắc ấy rõ rệt trong hầu hết các họa phẩm.

Nhưng anh cũng tự thú rằng “Màu sắc đang cười như một cô gái ngây thơ”. Tôi cũng nhận thấy đúng như vậy. Một cô gái ngây thơ, rất ngây thơ. Phần bố cục, được xây dựng rất vững vàng chặt chẽ. Nhưng nhiều chỗ quá băn khoăn, quá “nặng” về kỹ thuật gần đi đến sự tỉ mỉ nên thiếu khoáng đạt, phóng túng. Anh cũng ưa tô điểm trên các bức họa bằng những hoa lá màu sắc dễ thương (…)

Thưởng thức tranh của anh chúng ta không nên đòi hỏi đến những trạng thái phá phách của tâm hồn. Chúng ta cũng không thể tìm được ở đây sự say mê đến cùng độ, qua những nét ngang dọc quật khởi như cào cấu trên mặt vải, những vũng màu chát chúa ghê rợn ném văng vãi trên mặt khung.

Sáng Tạo số 16 tháng 1 năm 1958, Huỳnh Văn Phẩm giới thiệu Triển lãm thường niên hội họa và sơn mài của Hội Văn Hóa Việt Nam. Huỳnh Văn Phẩm viết:

Cuộc triển lãm thường niên Hội Họa và Sơn Mài của Hội Văn Hóa Việt-Nam năm nay tập trung 255 tác phẩm của 54 họa sĩ chọn lọc theo giá trị mỹ thuật của tác phẩm cũng có, và theo khả năng tiêu biểu sự tiến hóa cá nhân cũng có – như Hội đã bày tỏ trong phiến giấy giới thiệu phòng tranh.

Giá trị mỹ thuật của các họa phẩm triển lãm vì lẽ đó không đồng nhất cũng là một việc dĩ nhiên. Song le muốn có một ý thức rõ rệt về sự tiến triển hiện tại của Hội họa Việt-Nam qua phòng tranh của Hội Văn Hóa, thật ra cũng dĩ nhiên là khó khăn. (…) Hai trăm năm lăm tác phẩm của năm mươi tư họa sĩ đủ gây nên một không khí đô hội trong phòng tranh, góp mặt đủ mọi tuổi tác, mọi phẩm chất, mọi âm giai sắc độ.(…) Trong bầu không khí đô hội như vậy, còn rất nhiều họa sĩ tên tuổi đã từng trưng bày trong những phòng tranh riêng biệt như: Nguyễn Văn Rô, Tú Duyên, Lê Trung, Đào Sĩ Chu, Nguyễn Khoa Toàn.. .cũng gửi tác phẩm tới trưng bày kế bên những tranh của nhiều họa sĩ khác nữa mà tên tuổi ít quen thuộc với quần chúng. Đó cũng là điều đáng mừng. Hội họa như vậy đã lan qua những lớp người có tên tuổi hành nghề lâu năm, tới những lớp người mới. Không nề hà trở ngại kỹ thuật, những lớp người mới này đã bạo dạn chọn chất hội họa làm ngôn ngữ diễn tả nghệ thuật…

Sáng Tạo số 19 tháng 4 năm 1958 , Nguyễn Trung viết: Một ý kiến về cuộc triển lãm Duy Thanh:

Cuộc triển lãm sơn dầu và bột màu của Duy Thanh tại trụ sở Pháp Văn Đồng Minh Hội quyến rũ một số đông người xem. Điều làm cho người ta cởi mở là tính cách sáng tạo của cuộc triển lãm này. Duy Thanh đang tìm một đường lối mới. Có lẽ họa sĩ đang thí nghiệm vì trong phòng tranh, những tác phẩm không theo một đường lối duy nhất. Người ta thấy hai lối rõ rệt: một của cá nhân nghệ sĩ tuy có phơn phớt cái chất “Matisse” và một nghiêng về nghệ thuật trừu tượng. Tốt hơn Duy Thanh nên chọn lối ở trên, gần gũi và dễ cảm

Duy Thanh chú trọng rất nhiều về đường nét và màu sắc. Màu sắc trên tay Duy Thanh khi thì huy hoàng và nhiều tương phản, khi thì mơ màng và hòa hợp. Có nhiều sắc do sự pha trộn rất đẹp, nhất là ở những bức sơn dầu (…) Hình thể đối với Duy Thanh chỉ là phương tiện trang hoàng sắp đặt và được giới hạn bởi những đường nét đậm. Điều này cũng như sự phân phối màu sắc rất hay ở những bức tĩnh vật bằng bột màu khiến ta nghĩ đến Matisse. Như vậy không phủ định giá trị nghệ thuật của tác phẩm Duy Thanh. Chính cái bút pháp phóng túng độc đáo của họa sĩ mới là điều đáng kể.

Đi xem cuộc triển lãm Duy Thanh, một người bạn hỏi tôi: “Sao không thấy đề tài? Tôi nghĩ có lẽ họa sĩ muốn dẫn chứng quan niệm “nghệ thuật không có giải thích”. (…) Hầu hết các tác phẩm là phản ảnh nội tâm nghệ sĩ. Duy Thanh gần như quên lãng cái xã hội quanh mình.

Tác dụng của cuộc triển lãm này có lẽ là gây một không khí sáng tạo cho nền hội họa trong nước.

Trong Sáng Tạo số 24 tháng 9 năm 1958 Thái Tuấn viết về phòng triển lãm Nguyễn Văn Phương:

Tại Hội quán Việt-Nam P.E.N Club đã bắt đầu trưng bày một số họa phẩm của Nguyễn Văn Phương. Thoạt bước vào phòng tranh, tất sẽ có một số người choáng mắt về những màu sắc rực rỡ và khuôn khổ to nhớn của các bức họa. Nhưng những cảm giác đó qua đi rất chóng, như khi người ta nhìn một thiếu nữ xấu khéo đánh phấn trong khi còn đi ngoài tầm mắt. Tất cả các bức họa được đem trưng bày không một bức nào gây nổi cái không khí cổ kính của Việt Nam. Họa sĩ Phương trong khi nhận mình ở phái hiện thực đã nhầm lẫn, và bởi sự  nhầm lẫn nên căn bản họa sĩ dùng để xây dựng các họa phẩm đã không đứng vững, cũng vì vậy mà bị phá sản từ nền móng. Vậy thì hiện thực là cái gì? Một tác phẩm hội họa, nghệ thuật là một cảm súc do chúng ta nhận được của sự vật đồng thời cũng là sự diễn tả của tâm hồn chúng ta. Bởi vậy nó là thực, là lý tưởng. (…) Có thể kết luận là các bức họa đó là xuyên tạc sự thật của nghệ thuật, nó cũng không có được giá trị của sự minh họa bởi nó thiếu cái sườn là sự thực nên nó thiếu luôn sự sống.

Mục Qua Các Bộ Môn Văn Nghệ chỉ tồn tại trong 31 số tạp chí Sáng Tạo bộ cũ, chúng ta chỉ đọc những bài viết về điểm sách, tường thuật mấy cuộc triển lãm hội họa… Hầu hết những bài viết khác thường chỉ dừng lại như một mẩu tin ngắn có tính cách sự viêc, không có  nội dung, lại nữa nó cũng không bao gồm nhiều bộ môn. Những bài mà chúng tôi lược trích một phần nào làm sáng tỏ thêm ý tưởng mà tạp chí Sáng Tạo theo đuổi.

13 –  NHỮNG DỰ ĐỊNH :

1) Nhà xuất bản Sáng Tạo

Ngay từ Sáng Tạo số 2 tháng 11 năm 1956 ở trang bìa 3 có in: Nhà xuất bản Sáng Tạo giới thiệu: Để mở đầu cho một chương trình xuất bản rộng lớn, chúng tôi giới thiệu với toàn thể bạn đọc Sáng Tạo những tác phẩm văn nghệ sẽ được lần lượt phát hành kể từ tháng 11 năm 1956: Chị Hạnh, truyện dài của Nguyễn Sỹ Tế; Thơ, Nguyên Sa; Tôi hát hôm nay, thơ Quách Thoại; Tháng giêng cỏ non, tập truyện ngắn của Mai Thảo.

Tiếp theo những số báo sau còn giới thiệu những tác giả và những tác phẩm như: Quán nửa khuya, kịch củaTrần Lê Nguyễn; Tình yêu lý tưởng của Thanh Nam; Nhạc hồn của Trần Việt Hoài; Cùng đi một đường của Mai Thảo… và nhiều tác phẩm khác. Nhưng người đọc chỉ thấy một cuốn của Mai Thảo là Tháng giêng cỏ non được Sáng Tạo xuất bản

Về sau có nhiều đầu sách mang nhãn hiệu nhà xuất bản Sáng Tạo, nhưng đây là  nỗ lực của Doãn Quốc Sỹ, ông làm xuất bản chủ yếu là để in được sách của chính mình và của những người bạn. Cho nên có những ấn phẩm không thuộc tinh thần của nhóm Sáng Tạo.

2) Ban kịch Đêm Hà Nội

Sáng Tạo số 20 tháng 5 năm 1958 Mai Thảo lên tiếng về: Vấn đề sân khấu Việt Nam. Mai Thảo viết:

Lá thư ngỏ mời ba nữ diễn viên cộng tác trong việc dựng hai vở kịch ngắn của Thanh Tâm Tuyền và Trần Lê Nguyễn do nhóm kịch Những Tác Phẩm Chọn Lọc gửi đi, đăng trên Sáng Tạo và mấy tờ báo bạn được mấy ngày, trái với dự đoán của riêng tôi về điểm “không đòi hỏi điều kiện vật chất” ghi trong thư, đã có một số rất đông hưởng ứng lời kêu gọi đó đến gặp Ban Kịch ở tòa soạn. Phần lớn đều rất trẻ tuổi, chưa từng lên sân khấu lần nào, không một chút kinh nghiệm diễn xuất. Họ đến chỉ vì lòng yêu kịch một cách hồn nhiên với thiện chí đóng góp một phần xây dựng bé nhỏ. Hiện tượng bất ngờ và cảm động này giúp tôi nhận định được một điều: mặc dầu tình trạng yên ngủ của sân khấu hiện nay, ngành kịch vẫn có một chỗ đứng trong đời sống tinh thần và trí thức của những người yêu nghệ thuật. Chỉ cần ném đi một hòn đá lập tức có những tiếng vang lớn đáp lại. Chỉ cần một sự mở đầu là cùng với sự hưởng ứng nhiệt thành của lớp người yêu sân khấu, chúng ta cũng dễ dàng gây được một phong trào kịch rầm rộ, làm sống lại được hiện tình buồn thảm và hoang vắng của sân khấu Việt-Nam. Không sợ không có người đến xem ở dưới  kia, chỉ sợ trên này màn không mở, không có kịch (…)

1/  Những nguyên nào đã gây nên tình trạng bất động của sân khấu Việt-Nam? tình trạng này còn kéo dài bao nhiêu lâu?

2/ Những người có trách nhiệm và thẩm quyền trong ngành kịch đã và đang làm gì để chấm dứt tình trạng bất động đó?

Sau khi đưa ra vấn đề, thực trạng một sân khấu không có ánh sáng, không có sinh hoạt, Mai Thảo truy tìm những nguyên nhân của thực trạng. Trước hết Mai Thảo nhắc lại một điểm mà tưởng như sân khấu kịch có thể sống lại, sau đó bàn đến vấn đề kịch bản, vấn đề đào tạo diễn viên và chót hết là một tổ chức cho sân khấu kịch. Chúng ta hãy cùng Mai Thảo tìm hiểu những vấn đề đã đặt ra. Mai Thảo viết:

Nhìn trở lại – tôi vẫn lấy bốn năm gần đây làm giới hạn – phải công nhận có những lúc sân khấu tưởng như được sống lại. Gần nhất là trước lúc Đại Hội Văn Hóa Toàn Quốc năm ngoái. Ngành kịch xôn xao sửa soạn những đêm trình diễn cho Đại Hội này. Cùng với sự thành lập của Ban Kịch Võ Đức Diên, một tổ chức đông người và cồng kềnh, những buổi họp và tập kịch được tổ chức liên tiếp ở nhiều nơi. Những nhóm kịch được thành lập. Báo chí hồi đó tường thuật về những sinh hoạt văn nghệ, nói nhiều đến những sinh hoạt kịch. Trường Khoa Học Kỹ Thuật rồi trường Sư Phạm trong mấy tháng liền được chọn làm chỗ tập dượt vở kịch xuôi ba màn Bão Thời Đại của Trần Lê Nguyễn. Đồng thời ở câu lạc bộ Văn Hóa Bình Dân hàng ngày cũng có những buổi tập diễn vở kịch phóng tác Hàm Lệ của Trọng Miên. Không khí sân khấu ồn ào sôi nổi. Người ta gặp luôn luôn bóng dáng của những đạo diễn, hoặc phụ tá đạo diễn: Trọng Miên, Trần Lê Nguyễn, Tiền Phong, Minh Đăng Khánh… Sàn tập thì hàng ngày có mặt những diễn viên quen thuộc như: Giáng Hương, Kiều Hạnh, Minh Trang, Võ Đức Duy, Phạm Đình Sỹ. Đến cả những diễn viên bất đắc dĩ, tài tử như Tạ Tỵ, Mai Thảo cũng có mặt. Những nhà viết kịch cũng tìm thấy cảm hứng sáng tác trong không khí đó. Thanh Tâm Tuyền hoàn thành vở kịch ba màn Buổi Hòa Nhạc Cuối Cùng trong thời kỳ này. Đến như Đinh Hùng chỉ làm thơ ít khi viết kịch cũng vùi đầu trong vở Phụng Cầu Hoàng. Người ta còn nhắc đến Trở Về của Minh Hải, Hai Màu Áo của Minh Đăng Khánh, đến những sáng tác của Trọng Tấn, của Vi Huyền Đắc, những kịch vui của Trọng Lang. Còn bao nhiêu người khác nữa… Không khí văn nghệ thủ đô hồi đó trước đối tượng thời gian là ngày khai mạc Hội Nghị Văn Hóa Toàn Quốc bừng bừng một không khí sửa soạn trình diễn, với viễn tượng rực rỡ của những đêm kịch lớn. Nhưng điều bất hạnh là Hội Nghị Văn Hóa Toàn Quốc đã không được khai mạc đúng kỳ hạn dự định. Cứ hoãn lại, cứ chậm lại mãi tới khi khai mạc được thì mọi hoạt động của sân khấu đã đình chỉ…

Sau khi nhắc lại một thời điểm có một không khí hào hứng với kịch, những nỗ lực của những cá nhân yêu kịch, của những nhóm kịch muốn làm sống lại sân khấu, tất cả đều thất bại, Mai Thảo đi tìm những lý do và nhìn vào những điểm cụ thể: thất bại vì thiếu tổ chức, thiếu kịch bản, không có diễn viên được đào tạo. Để khắc phục những điều đó, theo Mai Thảo phải tiến tới thành lập Hội Sân Khấu Việt Nam với đầy đủ tính chất công khai và chính thức.

Sáng Tạo số 23 tháng 8 năm 1958, ngay nơi trang 1 của tạp chí chạy một hàng tít lớn: Chúng tôi thành lập ban kịch “Đêm Hà Nội”, những người ký tên dưới bản tuyên cáo này gồm: Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo, Mặc Đỗ, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Nam, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Trần Lê Nguyễn, Vũ Khắc Khoan… Bản lên tiếng viết:

Chúng tôi nghĩ rằng: nghệ thuật không thể triển khai trên một cơ sở thiếu hụt. Mỗi bộ môn nghệ thuật có những tinh thần, luật lệ và tác dụng riêng, chính vì đó, muốn có một sắc thái sinh hoạt quân bình và toàn diện, nghệ thuật luôn luôn đòi hỏi sự đóng góp và tác động hỗ tương của mỗi ngành.

Nhận định trên giúp chúng tôi khi cùng nhau nhận định toàn thể hiện tình nghệ thuật Việt-Nam, nhìn thấy sự tàn lụi và tình trạng bất động của một ngành thiết yếu: sân khấu.

Nhận xét không những chỉ thấy ở lãnh vực sân khấu cũ, chúng tôi muốn nói tới hát bội, tuồng, chèo, mà còn hết sức sâu đậm ở lãnh vực sân khấu mới. Chúng tôi muốn nói tới kịch, hình thức thể hiện linh động trực tiếp nhất của sân khấu.

Thiếu ánh sáng nghệ thuật chiếu tới, sân khấu Viêt-Nam mấy năm nay đã rơi chìm vào bóng tối. Nguyên nhân cũng dễ hiểu: Người ta đã mượn sân khấu để chiều những thị hiếu thấp kém của một số khán giả, và dùng nó để thỏa mãn những khuynh hướng du hý dung tục.

Nói một cách khác, sân khấu Việt-Nam trong đúng ý nghĩa của tiếng gọi, chưa thành hình.

Đã đến lúc nó phải được thành hình. Những vở kịch lớn ngoài đời đang khởi diễn. Sân khấu phải có mặt để thể hiện những vở kịch lớn ấy của đời sống và tư tưởng con người thời đại

Chúng tôi một số văn gia, kịch sĩ, họa sĩ, ý thức được những kịch tính của đời sống thế hệ mình và tha thiết với sân khấu Việt-Nam, thấy cần phải bắt tay xây dựng sân khấu ấy (…)

Chúng tôi tin rằng xây dựng sân khấu mới Việt-Nam có nghĩa là phải quan niệm lại vấn đề đó từ một quan niệm đứng đắn về nghệ thuật và thực hiện bằng một thái độ chân chính nghệ thuật.

Hôm nay, long trọng ký tên chung dưới bản tuyên bố thành lập ban kịch, và cho tới khi nào Đêm Hà Nội còn được góp phần hiến dâng của nó cho sân khấu Việt-Nam, chúng tôi sẽ mãi mãi trung thành với quan niệm đó.

Những người bạn của sân khấu, những nhà soạn kịch, đạo diễn và diễn viên cũng sẽ thông cảm và đến với Đêm Hà Nội trong tinh thần và ý thức nghệ thuật nói trên, đó là điều mà chúng tôi thiết tha tin tưởng.

Sau bản lên tiếng thành lập ban kịch Đêm Hà Nội in trên tạp chí Sáng Tạo số 23 tháng 8 năm 1958 cho tới khi tạp chí Sáng Tạo đình bản, không một lần có tin tức gì về ban kịch này và những hoạt động của nó.

Nói về những dự định của tạp chí Sáng Tạo trong việc thành lập nhà xuất bản, thành lập ban kịch là để người đọc thấy rằng: những người chủ trương tạp chí muốn làm nhiều điều cho văn học nghệ thuật nhưng họ đã không thể thực hiện được.

14 –  NHỮNG TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM.

Toàn bộ tạp chí Sáng Tạo có 38 số, chúng ta  thấy có một sự khác biệt giữa bộ cũ với 31 số báo và bộ mới với 7 số báo.

Ở bộ cũ, Sáng Tạo là một tạp chí văn nghệ, có những tác giả đã xuất hiện trong thời tiền chiến, có người đã viết từ trước năm 1954 cùng góp mặt với những cây bút mới. Phần biên khảo, lý luận mở rộng tới nhiều lãnh vực từ lịch sử, văn học và nhiều ngành nghệ thuật, cùng những vấn đề văn hóa tổng quát.

Sang bộ mới, Sáng Tạo là diễn đàn văn học nghệ thuật hôm nay, bộ biên tập đã tập trung vào những chủ đề chính trên mặt lý luận, đồng thời đăng tải sáng tác của những cây bút mới.

Dưới đây là ghi nhận về những tác giả và những sáng tác  đã góp mặt trong tạp chí Sáng Tạo từ số 1 tới số 31 của bộ cũ và không còn có mặt trong Sáng Tạo bộ mới sau đó:

1) Những tác giả chỉ sáng tác thơ:

Sau 1954, có nhiều nhà thơ nổi tiếng từ thời tiền chiến, nhưng trên tạp chí Sáng Tạo chỉ thấy có thơ của hai người là Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng:

VŨ HOÀNG CHƯƠNG:

  • Bao gờ có nguyệt (số 5); Tuổi xanh (số 17)

ĐINH HÙNG:

  • Khi em mới nhớn (số 5 )
  • Thảo dã xuân tình; Gửi Thạch Lam (số 17)
  • Bao giờ em lấy chồng (số 25)

SAO BĂNG:

  • Trăng (số 12)
  • Màu trắng (số 14)
  • Đôi mắt; Hai mươi năm (số 17)
  • Yêu (số 19)

NGUYỄN THANH GIÁ:

  • Cho tôi nói một điều (số 13)

NGY CAO UYÊN:

  • Tự họa (số 13)

ĐOÀN ĐINH QUỲNH:

  • Cầu nguyện (số 19)

TIÊU HÀ:

  • Hải đăng (số 21)

TUẤN HUY:

  • Hành trình ngày mai (số 24)

VŨ NGUYÊN:

  • Mùa xuân xa (số 24)

HUY TRÂM:

  • Điệp khúc (số 25)

Đ. MINH:

  • Bài ca hai mươi (số 25)

DUY NĂNG:

  • Nguồn (số 25)
  • Tâm hồn (số 26)

HOÀNG KHANH:

  • Hà nội còn mưa (số 26)

NGUYỄN THIẾU LANG:

  • Hờn lưu lạc (số 27)

NHẬT HƯƠNG:

  • Gục đầu (số 27)

HOÀNG ANH TUẤN:

  • Điệu nhạc tắt đèn (số 28-29)

DIÊN NGHỊ:

  • Thương nhớ  (số 30)

NGUYỄN DUY DIỄN:

  • Xây dựng (số 22)
  • Sáng thế ký (số 24)

2) Những tác giả vừa sáng tác thơ vừa viết văn:

THẠCH TRÂN:

  • Cung thầm (số 13)
  • Tôi còn sống giữa đời (số 14)
  • Ngậm ngùi (số 19)
  • Trăng đốm đèn (văn xuôi) (số 20)

THỦY THỦ:

  • Một mình (số 12)
  • Nỗi buồn trên đất liền (văn xuôi) (số 26)

LÔI TAM:

  • Tôi cúi đầu đi đêm nay (số 21)
  • Cách biệt (văn xuôi) (số 13)
  • Phía mặt trời mọc (văn xuôi) (số 19)
  • Cơn mưa (văn xuôi) (số 30)

PHẠM NGUYÊN VŨ:

  • Và tiếng nói (số 15)
  • Hành Khúc (số 18)
  • Tình bằng hữu chiến đấu (số 21)
  • Thơ cho Helena Okavitch (số 28-29)
  • Dạ khúc (số 30)
  • Nước mắt (văn xuôi) (số 15)
  • Ngoài vườn xuân (văn xuôi) (số 17)
  • Tiếng động dưới cỏ (văn xuôi) (số 25)

HOÀNG BẢO VIỆT:

  • Đi tìm thế giới trẻ thơ (số 20)
  • Thầm hiểu (số 23)
  • Tìm em (số 26)
  • Tình yêu, tình bạn , mùa xuân (số 28-29)
  • Hy Vọng (số 30)
  • Nước trôi về nguồn (văn xuôi) (số 25)

MAI TRUNG TĨNH:

  • Hạnh phúc (số 22)
  • Khi anh đến (số 23)
  • Bây giờ; Buổi sáng (số 24)
  • Lịch sử (số 25)
  • Nủa đêm (số 27)
  • Ao ước (số 30)
  • Trước ngày lên đường (văn xuôi) (số 25)
  • Những hạt ba dăng của Niệm (văn xuôi) (số 28-29)

VÕ PHIẾN:

  • Dừng chân; Tâm sự (số 27)
  • Kể trong đêm khuya (văn xuôi) (số 20 và 21)

TẠ TỴ:

  • Bài thơ của một người (số 19)
  • Nếu một ngày nào (số 31)
  • Thu trên đất Lào (văn xuôi) (số 4)
  • Người trước cửa (văn xuôi) (số 5)
  • Nửa đêm về sáng (văn xuôi) (số 7)
  • Cuốn sách tặng (văn xuôi) (số 17)
  • Những viên sỏi (văn xuôi) (số 18)

NGUYÊN SA:

  • Tự do (số 2)
  • Tôi sẽ sang thăm em; Nước ngọt; Tiễn biệt (số 4)
  • Bài hát Cửu Long (số 5)
  • Hãy đưa tôi ra bờ sông (số 6)
  • Đẹp (số 7)
  • Tôi sẽ bỏ đi rất xa (số 8)
  • Có phải em về đêm nay (số 9)
  • Tâm sự (số 13)
  • Gọi em (số 14)
  • Ngỏ ý (số 20)
  • Tương tư; Mời (số 28-29)
  • 20 – Tháng sáu trời mưa (số 31)
  • Lớp học mùa xuân (văn xuôi) (số 5)
  • Lò luyện người (văn xuôi) (số 10)
  • Người con gái trong truyện Liêu Trai (văn xuôi) (số 17)
  • Trang (văn xuôi) (số 22)

3) Những tác giả chỉ sáng tác văn xuôi:

SONG LINH:

  • Bức tranh (30)

LỮ HỒ:

  • Chung quanh một tin vặt (17)

NGỌC BÍCH:

  • Câu truyện khiếm đề (27)

TRẦN PHONG:

  • Đôi mắt (27)

CAO THIÊN LƯƠNG:

  • Mây đầu núi (27)

THÊ HOÀI:

  • Màu mắt người yêu (27)

VŨ KHẮC KHOAN:

  • Ba người bạn (2)

KIÊM MINH:

  • Con thuyền giấy (11)
  • Về trường hợp một đôi môi (17)

HUY QUANG:

  • Sau mười năm (17)
  • Người Hà nội (26)

THANH NAM:

  • Người trong tranh (5)
  • Con mèo hoang (12)
  • Người đóng kịch (17)
  • Quyên (25)

LÊ VĂN SIÊU:

  • Quán cháo lú (1)
  • Hà Ô Lôi , tiếng hát giết người (19)

MẶC ĐỖ:

  • Khung cửa mở (5)
  • Một buổi họp mặt (14)

TÔ KIỀU NGÂN:

  • Mùa xuân nhớ người (2)
  • Hội mùa xuân (5)
  • Về một ánh nắng (8)
  • Thư quê hương (17)
  • Phố hàng khay (25)

LÝ HOÀNG PHONG:

  • Cái nhìn (6)
  • Con sông (8)
  • Ngoài hàng dậu (11)
  • Tình ca (17)

Trên đây là bảng liệt kê những tác giả và những sáng tác mà những tác giả này đã đóng góp cho tạp chí Sáng Tạo trong 31 số báo. Sự ngừng lại chắc có nhiều lý do. Có những tác giả, qua những hoạt động sau đó cho thấy họ đã có những chọn lựa khác, như Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ  họat động cho nhóm Quan Điểm, Nguyên Sa chủ trương tạp chí Hiện Đại, nhiều tác giả tiếp tục sáng tác và xuất hiện có khi cùng lúc trên những diễn đàn khác nhau

Trong khi một số tác giả ngừng lại, một số tác giả tiếp tục có mặt ở Sáng Tạo bộ mới, những tác giả này và những sáng tác của họ sẽ được giới thiệu ở phần sau.

Trong bảng liệt kê ở trên chúng ta thấy số tác giả làm thơ chiếm một số lớn, có tác giả viết văn là chính nhưng cũng có làm thơ. Sau đây là những ghi nhận về một số tác giả:

NGUYÊN SA: Nguyên Sa là một tác giả có nhiều bài viết trên tạp chí Sáng Tạo với những bài biên khảo, tiểu luận về văn học, triết học. Ông sáng tác truyện ngắn, thơ. Khi nói đến Nguyên Sa người ta nói tới Nguyên Sa thơ. Thơ ông vẫn giữ vần điệu, nhưng ngôn ngữ thơ, hình ảnh trong thơ là của một thời đại mới, vì thế thơ ông được đón nhận một cách rộng rãi trong giới trẻ đương thời. Những sáng tác phẩm đã xuất bản: Thơ Nguyên Sa (1957), Gõ đầu trẻ (truyện ngắn,1959), Mây bay đi (truyện ngắn, 1967), Vài ngày làm việc ở chung sự vụ (truyện dài, 1972)… Nguyên Sa tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút hiệu Hư Trúc, người gốc Huế, sinh ngày 01-03-1932 tại Hà nội, năm 1949 du học tại Pháp, năm 1956 về Sài gòn dạy triết tại các trường trung học và Đại Học Văn Khoa, viết cho các tạp chí Sáng Tạo, Trình Bày, nhật báo Sống; chủ trương biên tập báo Gió Mới, tạp chí Hiện Đại. Sau 30-04-1975 sống ở Pháp rồi sang Hoa Kỳ và mất tại đây ngày 18-04-1998. Sau đây là bài Tôi sẽ sang thăm em in trong tạp chí Sáng Tạo số 4 tháng 01 năm 1957.

Tôi sẽ sang thăm em

Để những mớ tóc màu củi chưa đun

Màu gỗ chưa ai ghép làm thuyền

Lùa vào nhau nhóm lửa

 

Tôi sẽ sang thăm em

Để những ánh mắt màu sao sáng tỏ

Hay đôi mắt màu thóc đang say

Màu vàng khô pha lẫn sắc nâu gầy

Đừng nhớ những ngày càn là lúa

Để lệ trắng như gạo mềm rơi trên tay

 

Phải tôi sẽ sang thăm em

Để tình yêu đừng chua cay

Để tình yêu là sông

Một giòng sông gặp gỡ giòng sông

 

Tôi sẽ sang thăm em

Dù có một nhịp cầu mới mở

Nhưng chỉ để hành quân

Tôi vẫn sang thăm em

-Ngay hôm nay-

Chờ ngày mai có thể

Chúng mình sẽ xa nhau

Chúng mình sẽ nhìn nhau

Chúng mình sẽ thù nhau

Chúng mình sẽ nhìn nhau bằng đôi mắt người đàn bà có tuổi

Và giòng sông có thể dài thêm nửa với

Bờ sông không đuổi kịp giòng sông

Nhịp cầu đổ gẫy

Và chúng mình

Với bốn bàn tay chết đuối

Trên bờ sông

Như người đàn bà suốt đời thai nghén

Phải không em ?

 

(Paris 1953)

TẠ TỴ: Tạ Tỵ đi vào nghệ thuật bằng con đường hội họa, ông học trường Mỹ Thuật Đông Dương, trước năm 1954 ông đã có  triển lãm hội họa tại Hà Nội. Hội họa của ông theo trường phái lập thể, vào thập kỷ 1950 đây là trường phái tiên tiến. Sau đó tại Sài gòn ông tiếp tục vẽ và có thêm những cuộc triển lãm khác. Không chỉ theo đuổi hội họa, ông còn sáng tác truyện ngắn và làm thơ. Tạ Tỵ cộng tác với Sáng Tạo ngay từ những số báo đầu tiên. Riêng những sáng tác phẩm đã xuất bản có: Những viên sỏi (1962), Yêu và thù (1970)… Ông còn viết về chân dung những tác giả Phạm Duy, Bùi Giáng, Văn Cao, Đinh Hùng… Tạ Tỵ sinh ngày 24-09-1922 tại Hà Nội. 1954 di cư vào Nam. Sau tháng 4-1975 đi tù cải tạo, ra trại vươt biên và sống tại Hoa Kỳ. Cuối đời ông về sống tại Sài gòn và mất ngày24-8-2004. Sau đây là bài thơ Nếu một ngày nào, in trên tạp chí Sáng Tạo số 31 tháng 9, 1959.

Tôi sẽ buồn biết bao

Nếu một ngày nào tôi chết

Bỏ lại cuộc đời

Vui tươi và cay đắng

Như mầu của bức tranh dang dở

Như cuộc tình nửa chừng tan vỡ

Bằng những giọt nước mắt

Những nghẹn ngào

 

Buồn biết bao nhiêu

Nếu một ngày tôi chết

Linh hồn tôi sẽ không tan vào bóng tối

Mà ẩn nấp trong tim em

Cho đến bao giờ em không còn yêu tôi nữa

Cho đến phút nào em phụ tôi

 

Tôi tiếc cuộc đời

Dù bao nhiêu tội lỗi

Thầm kín như đêm sâu

Khêu khích dưới ánh đèn xanh đỏ

Tôi hát nghêu ngao cửa hồn bỏ ngõ

Tiếng hát mênh mông rạn vỡ thời gian

Ngã tư khuya nấc nở cung đàn

nhịp chân gõ nhẹ

Ánh đèn chiếu chếch gờ cao

Bóng tối ngã xuống mặt đường

Như một nét dao khắc vào mặt đá

 

Buồn biết bao

Tôi trốn cô đơn đi vào tẻ lạnh

Phố dài hun hút đìu hiu

Tâm linh theo bóng tối dập dìu

Đi từ vũ trường vào đồng hoang cỏ úa

Có vì sao lạc lõng

Trông đêm bao la

Dăm nhánh cây khô

Đưa lên vòm trời những bàn tay quái gở

Như cầu xin

Van lơn một cánh lá đâm mầm

Như tay tôi

Níu lấy cuộc đời

Tựa đứa trẻ con ôm dòng sữa mẹ

 

Tôi khao khát

Trong lạc loài

Cô đơn giữa lòng sa mạc

Bước chân lạc đà khấp khểnh in vào mặt cát buồn thiu

Một cơn gió lốc

Thổi ùa cát mặn vào môi

Giọt nước nào đây làm sống lại Mặt Trời

Đốt cả tâm tư cháy tan hy vọng

 

Thế mà sao tôi vẫn say mê

Say mê như mùa thương mười sáu

Khi giữa đường bắt gặp tình yêu

Thoáng nhìn em qua những nét diễm kiều

 

Tôi buồn bao nhiêu

Khi nằm trong tẻ lạnh

Bốn bề ván mỏng bao quanh

Những cánh hoa tàn rơi trên nắp mộ

Dăm chiếc lá vàng rụng vương hè phố

Vài ba dòng lệ chảy vào tim

Bỏ lại niềm vui trong đáy huyệt im lìm

Luyến tiếc dâng sầu giữa mầu đất xám

 

Tôi biết nói cùng ai

Chỉ nhìn dòng nước chảy

Chảy hoài chảy mãi

Theo thời gian bất tận

Vào không gian đến lúc lìa tôi

Phút tận cùng giã biệt cuộc đời

Ôi buồn biết bao nhiêu

Khi nhìn thấy ý mùa lên phơi phới

Trên ngực căng má chín tuổi hai mươi

Phố nhân gian hừng sáng mắt ai cười

Tôi gục xuống nghe máu mình sao xuyến

Đời vui thế phấn son nào ẩn hiện

Hàng mi cong chớp vội nét sầu tư

Sân khấu chưa lên đã khép kết từ

Màn buông xuống hậu trường òa tiếng khóc

 

Nếu một ngày nào tôi đã chết

Đường phố trầm buông tiếng chuông vĩnh biệt

Tự lầu cao đổ xuống bóng cây dài

Kèn tiễn đưa run rẩy điệu bi ai

Vó ngựa thấp cao đi vào hoang rợ

Có ai đứng nhìn theo

Cửa rèm khép mở

 Gửi lời chào qua ánh mắt đầy vơi

Vòng xe tang khập khểnh đã qua rồi

 

Buồn biết bao nhiêu

Tôi xót thương đời

Tôi yêu ý sống

Trong ly rượu cháy môi

Giữa niềm vui cuồng dại

Tôi uống hoa niên bằng tê tái

Tôi liệm đời tôi trong mái tóc mềm

Tôi say sưa cắn nát thịt da em

Để thấy lại hồn tôi còn sống

 

Nếu một ngày nào tôi chết

Tôi buồn biết đến bao nhiêu

Nhưng ngày đó chắc còn xa lắm

(1959)

VÕ PHIẾN: Ngay từ những số báo Sáng Tạo đầu tiên trong mục Qua Các Bộ Môn Văn Nghệ, Mai Thảo đã đọc và giới thiệu hai tác phẩm của Võ Phiến do nhà Bình Minh xuất bản ở Bình Định, đó là Chữ tình và người tù in trong hai năm 1956 và 1957. Dù chỉ mới xuất hiện nhưng Võ Phiến đã được đánh giá cao là một tác giả có phong cách riêng, nội dung chuyên chở một cách trung thực, sâu sắc cuộc sống hiện đại. Sau đó Võ Phiến góp mặt trên Sáng Tạo với truyện ngắn Kể trong đêm khuya, in liên tiếp trong hai số báo 20 và 21. Tới số Sáng Tạo 27, Võ Phiến cho in hai bài thơ. Võ Phiến đã cho in Mưa đêm cuối năm (1959), Đêm xuân trăng sáng (1961), G từ (1962), Thương hoài ngàn năm (1962), Thư nhà (1963)… Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, bút hiệu khác Tràng Thiên. Sinh ngày 20-10-1925 tại làng Trà Bình, quận Phù Mỹ tỉnh Bình Định. Sau năm 1975 ông di tản và sống tại Hoa Kỳ. Dưới đây là bài thơ Tâm sự, in trên Sáng Tạo số 27:

Trước ngõ tre, buổi chiều tâm sự với bạn:

Có thời kỳ dài, đành chết khô giữa đời. Mắt nhìn ánh sáng lạnh lùng như mặt gương. Ngày ngày thổi nhiều điệu nhạc buồn vào chiếc ống sáo khô. Chim sẻ ăn lúa trước sân…

Người ta nói cầu kỳ: kẻ nghiện á phiện hít qua dọc tẩu cả tài sản của mình. Ta lại thổi qua lỗ sáo con tất cả ngày tháng. Rồi khi dứt tiếng sáo, ngẩng lên thấy đông tây quạnh quẽ mà ngợp.

Kẻ rơi tàu giữa bể khơi, bơi đã mỏi cánh, hai tay hết xao nước, khi ngừng lại bị bốn chân trời bát ngát cùng với mây nước châu lại nhìn bằng một cái nhìn bao la mà lạnh lùng đến rợn ngợp. Cho nên kẻ ấy sợ mà chết.

Người đã thấy được cái đích của cuộc đời, đi tới mà chỉ tiếc khoảng thời gian rơi lại sau lưng. Trước mặt là điểm hồng tâm.

Kẻ chưa thấy đích, chỉ thấy mênh mông thời gian trước mặt.

Cũng có kẻ sống giữa đời thản nhiên, không nhìn trước ngó sau. Qua khỏi đèo, nhúm lên ngọn lửa, đốt đôi giày cỏ, không lưu lại một vết tích. Sống chết như sao lặn mọc giữa trời…

Buổi chiều tâm sự với bạn, trước ngõ tre có đám mây đen hạ thấp, nên lời nói nghe âm thầm rầu rĩ…

HOÀNG BẢO VIỆT: Thơ Hoàng Bảo Việt có mặt trên Sáng Tạo từ số 20, ngoài thơ ông còn viết truyện ngắn, ngoài tạp chí Sáng Tạo ông còn viết cho nhiều tạp chí khác. Ông sinh trưởng ở miền Nam, làm chuyên viên ngành kiểm soát không lưu. Ông đã cho xuất bản nhiều tập thơ như: Những giòng nước trong (1962) , Quê hương như một thánh tích. Sau năm 1975 ông đi tù cải tạo rồi vượt biên ra sống ở nước ngoài. Dưới đây là bài thơ Thầm hiểu in trên tạp chí Sáng Tạo số 23:

Mặt trời vừa lên                                                          Đêm nào nổi gió

Loài người mới thức                                                   Mầm chưa nên cây

Cây gì không tên                                                         Chân ai đành nỡ

Trái chín thơm phức                                                   Giẵm lên đất này !

Mặt đất vừa nứt                                                           Đêm nào khói lửa

Hạt vàng vụt rơi                                                          Bé còn ấu thơ

Nắng hè thêm sức                                                       Roi vọt nguyền rủa

Mưa mùa giúp hơi                                                     Thân gầy xác xơ

 

Em bé mở mắt                                                             Ngày tháng thoi đưa

Sớm khóc chào đời                                                    Còn nắng còn mưa

Láng giềng cô bác                                                       Còn trời còn đất

Nâng niu nói cười                                                       Còn mầm Bất khuất

Tập tễnh từng bước                                                     Còn trái Tự do

Lớn khôn lớn khôn                                                      Còn nghe tiếng hát .

Con tôi hạnh phúc

Mẹ ghì mẹ hôn .

 

MAI TRUNG TĨNH: Mai Trung Tĩnh góp mặt trên Sáng Tạo với những tác phẩm văn xuôi và thơ. Ông đã cho xuất bản: 40 Bài thơ (cùng với Vương Đức Lệ, 1960), Ngoài vườn địa đàng (1962). Thơ ông còn có mặt trên nhiều báo khác. Tên thật là Nguyễn Thiện Hùng, sinh ngày 10-7-1937 tại Hà Nội. Di cư vào Nam năm 1954. Sau tháng 4 -1975 ông đi tù cải tạo. Năm 1995 định cư ở Hoa Kỳ và mất tại đây tháng 2 năm 2002. Dưới đây là bài thơ Ao ước in trên Sáng Tạo số 30.

Thế nào thì rồi cũng phải chấm dứt

Như cuộc hành trình vào con đường đén dãy núi ngang

Tôi sẽ đứng lại

Tôi nằm xuống

Khối óc không còn nguyên

Giây thần kinh vừa vặn nhão

Đôi mắt đã hoang hoàn toàn hết sắc màu

Hai cánh tay chết cứng còn dơ cao

Như nói chưa hết

Và cẳng chân nghiêng mỏi mệt

Tôi đã chết .

 

Lịch sử qua tuổi tôi

Như những trận đòn hằn

Bao giờ bay hết được

Tôi vẫn nhủ âm thầm

Kỷ niệm sẽ phai ư

Tôi nhớ tôi đã bỏ

Phố cũ mái nhà xưa

Tôi nhớ bỏ cố đô

Như một cuộc đời trước

Tôi nhớ qua sông nước

Những chiều giật mình xem

Quang cảnh trắng rồi đen

Khiến linh hồn khóc nức

 

Thế nào thì rồi anh cũng phải nhắm mắt

Bộ mặt có còn nguyên vẹn chăng ?

Chắc chắn người ta sẽ ngạc nhiên vì nó méo mó

Nhưng anh chỉ mong sẽ nằm trong cỗ áo quan

Để được em đưa về Hà Nội cũ

Hồn anh không còn muốn nhớ

Một chút gì dù biết rằng lịch sử đã qua tuổi anh

Anh nhắc lại: như những trận đòn hằn

Anh sẽ được về chứ ?

Trong nghĩa địa ngoại thành ?

Anh phải đi vòng Hoàn Kiếm hồ

Nghe mùa Thu qua mành liễu phất

Hãy đặt anh nằm quay mặt về Đống Đa

Để anh nghe mùa Xuân đền Trung Liệt thét .

 

PHẠM NGUYÊN VŨ: Phạm Nguyên Vũ xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo nhiều kỳ từ cuối năm 1957 tới năm 1959, thời điểm cuối của Sáng Tạo bộ cũ. Cùng thời điểm này ông còn cộng tác với nguyệt san Thế Hệ. Sau đó trên văn đàn không còn thấy tên ông. Phạm Nguyên Vũ từng du học và là chuyên gia ngành kinh tế. Sau năm 1975 ông sống tại Hoa Kỳ. Phạm Nguyên Vũ chưa xuất bản tác phẩm nào. Sau đây là bài thơ Và tiếng nói in trên Sáng Tạo số 15 :

Tôi xin cúi đầu đi hai mươi năm

Theo con đường các anh dẫn dắt

Có thể là bạn bè chúng tôi đã chết

Bởi vì đâu ai biết

Như một sớm chuyến tàu lên đường

Người đứng ngoài sân ga vẫy tay từ biệt

Chỉ thấy một lần chiếc khăn tay màu trắng

Và khói mù buổi sáng bay lên .

 

Tôi xin lặng yên theo các anh

Mặc dầu chứa chan đau khổ

Xin hãy ghi tên tôi vào hàng ngũ

Để một hôm nào trên đường xanh

Tôi trông thấy những mái nhà thứ nhất

Để một sớm mai tôi biết

Những bạn bè chúng tôi bị ám sát

Cỏ có xanh mồ ngày hôm đó hay không

Bởi vì đâu ai biết

Người hy sinh không vì tình cờ

Cho những em tôi ngày sau tin tửơng

Tôi xin dự vào đám đông

Tôi xin đi với các anh

Nếu có bao giờ tôi chết

 Xin cởi áo tôi trước khi hạ huyệt

Cho tôi nằm ven đường đi

Đầu tỳ lên núi đá

Mà chiều tháng ba có gió

Gió đưa vào hương những bông cúc vàng cuối xuân

Như hơi thở

Khi các em tôi đi qua

Để tôi năm im theo dõi

Nếu sớm mai có nắng vàng khêu gợi

Cỏ dài chân trời và hoa chồi nụ mới

Các em tôi hớn hở lên đường

Tôi xin cúi đầu đi không nói năng.

 

LÝ HOÀNG PHONG: Lý Hoàng Phong xuất hiện trên Sáng Tạo số 6, ngoài bốn truyện ngắn ông còn viết một bài: Những giờ cuối cùng của Thoại, Thoại đây là Đoàn Thoại, tức là nhà thơ Quách Thoại, em ruột của ông. Ông có lối viết nhẹ nhàng lặng lẽ nhưng hàm chứa một nội dung đầy ắp trắc ẩn về những biến cố của cuộc sống, ở đó là một tâm trạng khắc khoải của một con người nặng lòng với hiện tại và một cái nhìn đau đáu về ngày mai. Lý Hoàng Phong tên thật là Đoàn Tường, ông sinh trưởng tại Huế, học hết trung học vào sống tại Sài gòn. Ông từng làm các tạp chí Thời Đàm, Quê Hương, Thế Kỷ 20. Tháng 2 năm 1961 ông chủ truơng tạp chí Văn Nghệ cùng với Ngọc Dũng, Dương Nghiễm Mậu, Tô Thùy Yên. Tạp chí Văn Nghệ  xuất bản được 24 số bộ cũ và 2 số bộ mới tới tháng 12 năm 1963 thì đình bản. Lý Hoàng Phong đã cho xuất bản: Sau cơn mưa (truyện dài, 1963), Người giết người (truyện ngắn, 1967). Ông mất ngày 13-12-2002 tại Sài gòn. Sau đây chúng tôi xin lược trích truyện ngắn Cái nhìn của ông in trên Sáng Tạo số 6:

“Phương chăm chú nhìn người con gái đứng dưới bóng cây phượng. Chỉ độ 18 tuổi, nàng ốm o, nhỏ bé một cách đáng thương. Một cái quần đen quá rộng, một cái áo ngắn tay dài nằm thẳng trên một tấm ngực mỏng manh. Nơi chân một đôi guốc đã mòn. Chắc hẳn là một cô gái nhà quê. Nhưng dưới mái tóc khô héo, hơ rối, buông sõa xuống sau lưng, dáng mặt có một vẻ tinh anh khác thường. Vừng trán rộng, thoải mái, đường mũi thẳng, nhỏ nhắn, đôi môi dày dặn, cái cằm nhỏ. Trên nền da tái xanh, hai con mắt rất đẹp. Hai con mắt đen, hơi sâu, làn mi dài, cong cong. Nàng đứng một mình hai tay vòng lại trước ngực, buồn bã nhìn ra trước.

Sáng nay, lần đầu tiên, Phương thấy nàng. Có lẽ nàng mới vào chiều hôm qua mà Phương không biết. Các bệnh nhân đang ở trong vườn sau của bệnh viện, chờ đến giờ cân. Họ đi qua lại trong vườn hoặc quây quần chuyện vãn với nhau.

Phương đi đến cạnh người con gái và khẽ cúi đầu:

–           Xin lỗi chị, chị mới vào?

Nàng quay nhìn Phương với một vẻ khó chịu và không trả lời. Phương tiếp:

–           Có lẽ chị mới vào chiều hôm qua

Nàng buông thõng:

–           Dạ tôi mới vào chiều hôm qua.

Nghe giọng nói, Phương biết nàng là người đàng ngoài. Phương nói:

–           Hình như chị không phải người ở đây?

–           Tôi người Quảng Bình.

Phương cười :

–           Chị người Quảng Bình. Tôi cũng người Quảng Bình đấy. Thế chị ở huyện nào?

–           Dạ huyện Quảng Trạch.

–           Thế tôi cũng huyện Quảng Trạch. Thế chị ở làng nào?

–           Dạ tôi ở làng Lệ Sơn

–           Lệ Sơn. Thế chị có biết làng Thuận Bài không?

–           Dạ tôi biết làng Thuận Bài

–           Thế làng Thuận Bài có gần làng Lệ Sơn không chị?

–           Dạ cũng không gần nhưng cũng không xa nhau lắm. Chỉ cách con sông.

–           Sông gì thế chị?

–           Dạ sông Gianh.

–           À, sông Gianh tôi quên mất.

Tần ngần một lát, Phương cười nói tiếp: Làng Thuận Bài là làng tôi. Tôi chưa bao giờ về đến đấy. Làng tôi chỉ có hai họ. Một họ thì ở làng làm ruộng. Họ tôi thì bỏ đi kiếm ăn ở thành. Tôi rất muốn về quê thăm cho biết mà chưa bao giờ về được.

(…)

Phương nghĩ đến những cánh đồng lúa êm đềm, những lũy tre xanh tươi mát, đến một cuộc đời đơn giản mà chàng có thể tìm được sự yên tĩnh cho tâm hồn. Phương nghĩ đến một ngày, đất nước không còn chia xẻ, lòng người không còn phân ly.

Cánh cửa phòng bỗng sịch mở. Anh bạn bệnh nhân ở phòng bên cạnh đi đến đứng bên Phương. Anh đập vai chàng và nói:

–           Anh biết chị Thơm không?

–           Chị Thơm nào?

–           Chị Thơm mới vào được mấy hôm nay đấy.

–           Chị người Quảng Bình?

–           Ư, chị người Quảng Bình.

–           Có chuyện gì sao?

–           Không. Anh biết, lúc chị ấy đến, tôi cứ tưởng chị là con gái mười tám, mười chín tuổi…

–           Thế sao?

–           Hai mươi bốn tuổi rồi đấy. Đã có chồng và con ba tuổi rồi.

–           Ai nói với anh thế?

–           Chị Vân mới nói với tôi. Chị ấy mới đến phòng bên cạnh chị Vân hồi chiều.

–           Thế chồng chị ấy làm gì?

–           Bộ đội. Đi tập kết ra Bắc từ hồi ấy. Nguyễn Phước Minh, người Hà Tĩnh. Hồi trước có học ở đây.

–           Nguyễn Phước Minh người Hà Tĩnh ?

–           Vâng. Anh biết hay sao?

–           Thế thì tôi biết. Anh ấy là bạn tôi.

(…)

Phương ngồi xuống ghế, trước mặt nàng. Thơm vẫn mặc cái áo len xanh. Mái tóc chải gọn gàng, dáng mặt tươi mát. Căn phòng nhỏ có vẻ hơi lạnh lẽo. Trên chiếc giường gỗ, trải chiếu, chỉ thấy một tấm chăn mỏng. Phương nói:

–           Bắt đầu mùa lạnh rồi, chị không xin bà xơ một cái mền.

–           Tôi đã có nói nhưng chưa thấy đưa đến.

–           Ở đây chắc lạnh hơn trong chị nhiều.

–           Dạ ở trong tôi ít lạnh hơn.

–           Qua đến đông, ở đây còn lạnh lắm. Nay chỉ mới giữa thu. Chị phải cần lo cho được ấm.

–           Dạ, tôi có đan thêm một cái áo len, cũng gần xong.

Im lặng một lát. Phương nhìn nàng và nói:

–           Tôi có biết anh Nguyễn Phước Minh.

Thơm ngước mắt lên nhìn Phương, hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn lặng lẽ không nói gì. Phương tiếp:

–           Tôi có nghe nói về chị. Anh Minh trước là bạn thân của tôi. Tôi xa anh thế là đã hơn mười năm rồi. Tôi không ngờ hôm nay lại gặp chị ở đây…

(…)

–           Thế anh chị ở với nhau được bao lâu thì anh ấy đi?

–           Được hơn ba năm. Nói thế nhưng đâu có ở với nhau. Sau ngày cưới anh ấy trở lại mặt

trận Lào. Chỉ lâu lâu về thăm một lần rồi lại đi.

–           Thế ngày tập kết, sao chị không theo anh?

Mắt nàng bỗng đỏ lên như có vẻ hờn giận.

–           Anh ấy không có về. Anh ở bên Lào rồi đi thẳng luôn.

–           Chị cũng có thể đi theo sau chứ?

Giọng nàng như có vẻ hằn học:

–           Không, tôi không đi theo.

Im lặng một lát. Phương lại hỏi nàng:

–           Thế từ ngày chị lấy anh, chị vẫn ở nhà chị?

–           Dạ tôi vẫn ở với mẹ tôi. Anh ấy mất cha mẹ cả rồi.

Phương lẩm bẩm :

–           Tôi không được biết.

Một lát sau, Phương hỏi nàng:

–           Chị có đông anh em không?

–           Tôi có hai anh trai, ba em gái, và một đứa em trai. Nhưng anh cả tôi đã chết rồi. Anh ấy phải đi dân công cực khổ quá mắc bệnh rồi mất. Em gái tôi lại có một đứa bị tật. Nó bị trúng một mảnh bom, què một cánh tay.

Câu chuyện dần dần đã thấy buồn. Phương ngồi lặng không nói gì nữa. Bỗng Phương nghe tiếng Thơm gọi nhỏ nhẹ:

–           Anh có biết đến bao giờ thời yên không?

Phương mỉm cười :

–           Tôi cũng định hỏi chị như thế.

Phương nhìn ra ngoài trời rồi lại nói:

–           Tôi tự hỏi không biết bao giờ tôi mới gặp lại anh Minh.

Biết bao giờ, Phương tự nghĩ. Có lẽ gặp nhau chỉ để giết nhau. Phương quay lại thì thấy Thơm đang nhìn chàng, không hiểu sao Phương bỗng cúi đầu. Vừa sau đó chị Vân trở về.

(…)

Một buổi sáng, Phương gặp nàng ngồi một mình trước cửa phòng, Phương đến đứng trước mặt Thơm dựa người nơi thành lan can. Thơm nhìn Phương mỉm cười. Phương nhìn đôi mắt, nét mày của Thơm rồi nói:

–           Hồi nhỏ, tôi thường mơ ước có một cái nhà, trước là sông, sau là núi. Tôi có một cái vườn nhỏ để trồng hoa quả. Có lẽ tôi cũng làm ruộng và tôi cũng có thể nuôi heo, nuôi gà. Tôi sống cuộc đời của một nhà nông. Không biết đến bao giờ tôi mới có thể sống như thế. Chị thấy cuộc đời mình ao ước là một đường, cuộc đời mình phải sống lại là một đường. Nhưng mơ ước thì lúc nào cũng vẫn còn mơ ước.

Nói xong, Phương nhìn Thơm thì không còn thấy vẻ mặt tươi cười của nàng nữa. Đôi mắt nàng bỗng trở nên buồn bã, mơ màng. Nàng bỗng hỏi Phương:

–           Thế khi nào thì anh trở vào Sài Gòn?

–           Có lẽ đầu tháng sau. Tôi ra bệnh viện thì phải vào trong ấy ngay.

–           Thế thì chỉ còn có một tuần lễ.

–           Nhưng cũng chưa chắc. Vài hôm nữa còn khám điện lại mới nhất định.

Thơm lặng lẽ nhìn ra vườn, không nói gì.

(…)

Sáng hôm ấy, Phương rời khỏi bệnh viện rất sớm. Chàng không muốn thấy đôi mắt ấy, cái nhìn ấy. Phương phải ra đi. Ra đi trở lại nơi cái thành phố xa xôi, bụi bậm, ồn ào. Nhưng Phương sẽ trở về. Chàng chỉ muốn trở về, chỉ muốn trở về.


(Tiếp theo)