• tác giả

Trịnh Cung – Gốm Nguyễn Quốc Chánh

Với hơn 250 sản phẩm gốm, triển lãm cá nhân đầu tiên của Nguyễn Quốc Chánh vừa qua tại Sài Gòn đem đến cho người xem hai điều thú vị: một là bất ngờ trước số lượng “khủng” của tác phẩm mà một người chưa bao giờ có “tiền án tiền sự” với thứ nghệ thuật làm bằng đất sét và lửa như Nguyễn Quốc Chánh có thể tạo ra chỉ trong sáu tháng; hai là vẻ đẹp ngoạn mục của chính những tác phẩm ấy. Gốm Chánh vừa có vẻ đẹp hoa mỹ, lãng mạn, rất bắt mắt và gây ham muốn cho xúc giác người xem bởi hình dáng gợi cảm, bởi màu men tương tác với lửa nung tạo cái đẹp kỳ ảo bất ngờ của dòng gốm hiện đại thị trường trong hầu hết loại gốm bình, lại vừa dũng mãnh công lực trong nghệ thuật đương đại với nhóm gốm tượng.

Với gốm bình, Nguyễn Quốc Chánh như có ý mời chúng ta một loại rượu khai vị nhẹ nhàng, hoặc như trưng một vườn hoa đài các trước hiên nhà tạo cảm giác thơ mộng, an lành, trước khi dẫn ta vào cánh cửa của một thế giới nghệ thuật phi nghệ thuật, của đạo đức trần trụi, của tự do mạt lộ, của hoan lạc tuyệt vọng: gốm tượng. Đây mới thật sự là hiện “nguyên con” cái bản ngã luôn thách thức sáng tạo của tác giả. Đây cũng chính là sự khác biệt lớn, làm cho gốm tượng Nguyễn Quốc Chánh mới lạ hơn loại gốm tượng thường thấy tại Việt Nam từ xưa đến nay. Gốm tượng Chánh –  một tổng thể của những phân hủy và tái lập tinh thần con người, khát vọng sống tự do của một con người đang bị cạn kiệt dưỡng khí, đang sống dở chết dở vì ngộ độc chính trị.

Gốm bình và gốm tượng vừa triển lãm của Nguyễn Quốc Chánh, tôi nghĩ, là cuộc trình diễn mặc áo và cởi truồng tinh thần của Nguyễn Quốc Chánh – hai mặt của một con người, hai mặt của một đời sống và cũng là hai mặt của một dân tộc, mà cái mặt sau ấy hầu như ở số đông người Việt đã bị tự hủy hoặc tự xiềng xích trong bóng tối sợ hãi không đáy.

Thật ra, những ai đã đọc thơ Nguyễn Quốc Chánh sẽ dễ bắt gặp cái nhất quán trong tính cách gốm tượng và thơ của Nguyễn Quốc Chánh. “Nghệ sĩ là một cá thể vốn phóng đãng, hoang tưởng, do đó luôn nuôi giấc mơ về tự do,” Chánh đã nói như thế để mở đầu tập thơ Khí Hậu Đồ Vật năm 1997 của anh. Từ luận điểm này, Chánh đẩy thơ mình ngày càng dữ dội thách thức, dữ dội chất vấn, dữ dội phẫn nộ và cũng cuồng điên hy vọng, với tiếp sau đó là những tập thơ Của Căn Cước Ẩn Dụ và Ê Tao Đây. Chánh đã tạo nên một hành trình thơ từ hoang tưởng hóa thân đến trần trụi vong thân. Gốm Chánh, dù không trải qua quá trình dài thách thức sáng tạo như thơ, nhưng nó thụ hưởng và chịu sự chu cấp của cái tài sản kếch xù mà quá trình làm thơ đã tích lũy, nên sớm có ngay tầm vóc của kẻ từng trải.

Để dẫn chứng về mối tương quan mật thiết giữa thơ và gốm của Nguyễn Quốc Chánh, chúng ta hãy xem nhóm gốm tượng mang hình những con cặc trong tư thế giương nòng. Dù dài ngắn, màu kiểu khác nhau, già trẻ lớn bé, cả thảy đều sẵn sàng, hiên ngang chờ/đòi quyền nã đạn, làm chúng ta nhớ đến bài thơ “Đụ Vỡ Sọ” với câu thơ “Cặc tôi ấm và cứng” của Chánh cách đây khoảng sáu năm; hay nhớ đến bài “Cặc Đương Thời” năm 2007 với câu “Đạo đức cặc phải là cặc cứng”. Trong hoàn cảnh chính trị bi đát của Việt Nam hiện nay, với tư cách một người đàn ông trong cuộc, Nguyễn Quốc Chánh đã biến hình ảnh cặc cứng thành một biểu trưng chính trị và văn hóa, liên quan tới sự tồn sinh của đất nước. Chánh xiển dương cặc cứng như xiển dương thể diện của một dân tộc mạnh, có khả năng chiến đấu và sinh tồn. Cặc chính trị, cặc văn hóa mà xìu thì tổ quốc phải tiêu zên.

Nhưng “Cặc Cứng” chưa phải là “ngón độc” của gốm tượng Nguyễn Quốc Chánh trong lần triển lãm này, mà chính nhóm tượng “Người Mặt Lồn” mới là độc chiêu về ý tưởng sáng tạo. Nó cho thấy cách nhìn nhận của nhà thơ – người nặn đất Nguyễn Quốc Chánh – về tầm hệ trọng đặc biệt của Lồn không chỉ trong phạm vi sinh tồn-sinh lý như cách tôn thờ Linga và Yoni của người Chăm, mà còn mở rộng ra về các mặt chính trị và văn hóa. Những gốm tượng này nằm trong nhóm mang hình cơ thể người được Chánh thực hiện theo cách nhìn tôn vinh nhục thể và ham muốn hiện sinh. Như Chánh đã từng viết trong tập thơ Khí Hậu Đồ Vật:

Như báo đói tôi khoắng chân vào em rùng thân cao nguyên
Em dồn ban mai lên ngực, đêm rách…

Cảm hứng ra đời của nhóm gốm tượng này, như đã tự bạch trên tienve.org, là do Chánh “trộn câu chửi trứ danh đó (“thằng/ đồ mặt lồn” ) với một vài miếng võ của Siêu Thực và Zen để tạo ra”. Zen và Siêu Thực – hai thể triết lý đã già nhưng vẫn còn sinh lực tồn tại và vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng cho nhiều thế hệ sáng tác – đã được Nguyễn Quốc Chánh gom vào với câu chửi “Đồ mặt lồn” trứ danh của người bình dân Việt Nam, cũng là một triết lý dân gian thâm thúy đặc sệt Việt Nam đã từng được Chánh dùng làm cảm hứng trước kia cho thơ. Hình ảnh Lồn trên gốm tượng dưới nhiều cách ký hiệu của Chánh, trong thuật ngữ của nghệ thuật tạo hình giới chuyên môn gọi là point riche, là accent, là linh hồn của tác phẩm. Giữa thời đại toàn cầu hóa của nghệ thuật, giữa ngồn ngộn tác phẩm, trong hằng hà cuộc triển lãm, làm cách nào để nhận ra cái ID của nghệ sĩ mà không cần đọc bản tiểu sử của họ nếu mỗi cá nhân không có một dấu ấn riêng? Giả dụ nếu Chánh không đưa “mặt lồn” lên một số gốm tượng quan trọng của mình – một nghệ thuật tạo hình đầy cảm xúc – thì liệu chúng có thể lách ra khỏi những cái bóng điêu khắc hiện đại khổng lồ của những Brancusi, Henri Moore và Jean Arp? Cái hành động lách này là một phản ứng của kẻ nô lệ theo nghĩa chính trị, ở mặt nghệ thuật nó là một phản ứng của nghệ sĩ sáng tạo.

Và để đặt dấu chấm kết tạm cho hành trình sáng tạo mới thông qua đất và lửa lần này, Nguyễn Quốc Chánh đã chuyển ngữ bài thơ “Xuống Đường” của chính mình sang ngôn ngữ đất nung, hay nói đúng hơn chỉ là chuyển đổi chất liệu sáng tạo từ con chữ của thơ sang đất nung. Chánh lấy cảm hứng từ hình ảnh hàng ngàn bước chân trần trụi của các nhà sư Miến Điện đã thực hiện cuộc xuống đường vào năm 2008 tại Yangon, trước họng súng của nhà nước độc tài. Họ đã chống trả lại sự đàn áp giết người bằng im lặng rỉ máu của những bước đi vì tự do cho người Miến. Những bàn chân, những ống chân tận hiến ấy đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật ý niệm đầy ám ảnh trên chất liệu và kiểu cách của gốm lu Biên Hòa.

Tóm lại, để cảm nhận được cái đẹp của gốm Nguyễn Quốc Chánh, tôi không đứng ở góc độ của nhà mô phạm gốm mỹ nghệ, gốm kinh điển của Trung Hoa, gốm đạo Nhật Bản và gốm vương giả Phương Tây, cũng không nhìn gốm Chánh theo cách của mỹ thuật tiền sử mang đậm tính hồn nhiên, phi kỹ thuật. Gốm (hay thơ) của Chánh đều mang dấu ấn của trí tuệ, của chọn lọc tinh hoa của nhiều dòng văn học nghệ thuật Đông và Tây, xưa và nay, nhưng không chấp nhận làm phiên bản cho bất cứ một kiểu mẫu nào đã có. Đối với lý thuyết (kinh điển, trường phái), Chánh luôn là một kẻ bất phục tòng đầy thông minh, một kẻ cắp linh hồn thiện nghệ (như Picasso đã nói vẽ giống chỉ là họa sĩ giỏi, ăn cắp mới là thiên tài) để mang về nuôi cấy, lai tạo với thứ giống bản địa tuy còi cọc nhưng là cái giống hiếm (sắp tuyệt chủng), để hôm nay cho ra thứ gốm tượng mang rõ tham vọng rủ bỏ hoàn toàn chiếc áo nhược tiểu vốn đã đeo bám gốm Việt từ hằng trăm năm qua.

Sáng tạo nghệ thuật là con đường khắc nghiệt và ngày càng khắc nghiệt hơn, nghệ sĩ phải thánh chiến với chính mình để hiện thực giấc mơ sáng tạo. Như ai đó đã bày tỏ lòng ngưỡng mộ vô cùng với con chó vì nó cứ say sưa gặm mãi cục xương, cái cục xương đã không còn gì để ăn. Nó chỉ là vì muốn mút lấy cho bằng được chút tủy còn nằm sâu bên trong cái khúc xương trơ trụi ấy. Tuy nhiên, dù có tham vọng đến đâu, trong sáng tạo, thiếu tài năng cũng sẽ biến những tham vọng thành xác thối dù có nhân danh Nghệ Thuật Đương Đại hay Văn Chương Hậu Hiện Đại. Thật vậy, sau gần một thế kỷ sáng tạo văn học–nghệ thuật của nhân loại đầy xáo trộn, xung đột bởi những phát kiến đầy tham vọng cho đổi mới sáng tạo, cuối cùng, chất lượng tác phẩm mới quyết định sự tồn tại của nghệ thuật, mới bảo chứng giá trị cho cái mới. Và tất nhiên, tài năng của nghệ sĩ là mẹ đẻ ra chất lượng của tác phẩm. Trên quan niệm này, gốm Chánh là kết quả ban đầu của một tài năng.

Ở đây, trường hợp Nguyễn Quốc Chánh, đối với thơ, là một chuyện tạm dừng khi anh cảm thấy những con chữ đã bị đục khoét cạn kiệt, trong lúc tìm giải pháp cho sự hồi sinh của nó, đất sét và lửa là một thay thế đầy hứng thú của Chánh. Thế giới của đất sét và lửa, xưa nay, người ta chỉ khai thác phần kinh doanh, riêng phần thi ca, nghệ thuật nó vẫn đầy tiềm năng, nhất là loại thi ca, nghệ thuật cho cái đẹp trần trụi của nội tâm, của bi kịch con người thì hầu như chưa ai chạm tới. Với đất, Chánh là một người tình. Với lửa, Chánh là một tín đồ.

                                                         
Sài Gòn 19.03.2012