• tác giả

Hồ Đình Nghiêm – Niềm riêng

“Three may keep a secret, if two of them are dead”, Benjamin Franklin.

1.
Hội Cao niên mở cửa sáu trên bảy. Cách chợ ba trăm mét, xa chùa gần hai cây số và thân cận láng giềng với trung tâm thẩm mỹ hớt tóc nhuộm sấy- chuyên trị làm nail. Giống như tên gọi, căn phòng rộng mười mét vuông ấy chứa đựng những vật dụng già tuổi. Bàn ghế không đồng dạng. Cái gỗ cái nhựa, cái đen đúa cái màu mè. Có tủ đựng sách với hàng chữ lớn dán trên vách: “Coi tại chỗ, cấm mang đi”. >>” />Sách đa phần là truyện chưởng và tình cảm gay cấn của Quỳnh Dao. Có máy lọc cà phê, có bình thủy, có ấm trà. Có cỗ bài tây, có bàn cờ tướng và có thể, rất nhiều thứ khác nằm ẩn dấu đằng sau lối đi vào phòng vệ sinh.

Nếu tuổi bạn đã 65, hoặc già hơn? Bạn mua vé đi xe buýt với giá phân nửa. Cũng thế, buồn chân bạn vào cửa hàng The Salvation Army mua áo quần cũ, tha một đống đồ hiệu với giá bèo không tưởng được sau khi xuất trình giấy chứng thực tuổi đã về chiều. Hội cao niên thì bảnh hơn, họ hay dụ khị bạn đi chơi xa ngoạn cảnh mà chẳng cần phân biệt tuổi tác. Hai chục bạc mỗi đầu người, xe đò hạng sang, sáng đi chiều về bao luôn thức ăn nước uống. Nói chung, khi bạn đã già, đi đâu bạn cũng hưởng được sự đặc ân khác thường. Bạn mua thuốc trợ lực cũng dễ, tựa lấy đồ trong túi ra, đâu khó khăn như bọn trẻ khi muốn thử qua công hiệu của Viagra.

Ông Bảy đi theo người bạn già dẫn đường. Ông hít phải mùi nước đái qủi từ tiệm hớt tóc xông ra nồng nặc thì nghe người bạn la to: Tới rồi!

Nền vàng chữ đỏ. Chữ Hội cao niên kẻ sơn chẳng được thẳng thớm. Ông Bảy có một nhận xét: Vàng, đỏ. Riêng lãnh vực thẩm mỹ, hai màu ấy luôn thù nghịch nhau. Da vàng máu đỏ, đâu phải chỉ vì cái cớ ấy mà dân Việt nỡ lòng nhắm mắt vi phạm vào cái khoản “ngó cho được mắt”. Giả sử ai đó quét phông màu xanh đậm, bleu noir, rồi dùng sơn trắng mà “quất” ba chữ Hội cao niên lên trên coi có phải “Tây” hơn không? Chỉ cần mường tượng thôi, chín chín phần trăm đã thấy “thằng” xanh trắng đẹp ăn đứt “thằng” vàng đỏ.

Bước vào cửa, hai ngọn néon đón chào ông Bảy bằng thứ ánh sáng chiếu lệ. Ngọn thứ ba thì mãi nhấp nháy, hổng chịu năng nổ với chức năng. Gần đất xa trời, chữ ấy nghe thấm thiá, riêng với con người. Ngọn đèn đang hấp hối kia sao chẳng ai đành lòng đem quẳng thùng rác? Nó chiếu xuống hội phòng, lan toả một thứ gì buồn buồn, day dức trong câm nín. Có hai người đàn ông tóc bạc đang ngồi chơi cờ và người thứ ba là một madame mãi loay hoay với khay đựng trà. Tiếng ly tách va chạm nhau, tiếng những con cờ bằng gỗ gõ chan chát xuống bàn. Bận bịu. Không ai rảnh mà trông lên kẻ mới bước chân vào phòng. Ông Bảy lại nghĩ: Ở cuộc đời, tất cả chúng sinh đều mắc phải nhiều lầm lỗi. Và đáng phàn nàn là cái phận người bé nhỏ ấy đều bị cuộc chơi bắt phải tuân thủ một điều lệ: Hạ thủ bất hoàn. Thua, chỉ có hối tiếc ăn năn. Khắc vào da thịt một thứ tì vết mà ai đó dẫu có thứ tha cũng khó gội rửa cho sạch. Ông Bảy trước 75 là một nhân viên có chức phận trong ty Ngân khố. Một mình, ông nuôi bốn đứa con học hành tới nơi tới chốn. Nhưng mà lớn lên, đứa con đầu đụng trận, thây phơi ngoài chiến địa. “Áo bào thay chiếu anh về đất” như câu thơ hào sảng của ai kia. Đứa hai, không oanh oanh liệt liệt như anh nó, chết trong tù cải tạo một vùng đất xa xăm đâu tận ngoài Bắc. Đứa ba, con gái, mình hạc xương mai, du học ở Pháp rồi để cho thằng thực dân lạ hoắc lạ huơ ẳm đi chẳng một lời cáo phó “au revoir” để lại. Thằng út vượt biển, qua Canada phấn đấu thi đỗ làm bác sĩ, lấy vợ cùng đẳng cấp, mở phòng mạch hốt bạc, bảo lãnh ông Bảy qua và… và mặt lạnh như tiền, thuê cho ông Bảy căn hộ hẹp bé “Bố ở riêng cho được tự do”. Chúng nó giáng một đòn quyết liệt, hạ thủ bất hoàn, ông Bảy nhìn tướng sĩ tượng tan tác, thành quách u sầu đành dong cờ trắng đầu hàng vô điều kiện. Đem con bỏ chợ, ông Bảy phải ngửa tay xin tiền trợ cấp xã hội. Gầm đầu xuống đất nhỏ ba giọt lệ, ngước mắt nhìn cao xanh mà cười lên ba tiếng. Bậc làm cha mẹ thường mang niềm vui tràn bờ khi con cái thành công ngoài trường đời. Đôi khi lỡ miệng dông dài về chúng thì người nghe chuyện chớ vội trách cứ là họ huênh hoang. Ông Bảy khác, ổng ngậm miệng hến, câm như thóc. Con mèo biết dấu cứt là ông Bảy. Ổng mồ côi trước cuộc đời. Người bạn già nói với ông bằng thứ triết lý mơ hồ của Tây: “Oh! C’est la vie!”. Và cụ thể bằng tiếng Việt, giọng Nam chơn chất: Anh Bảy theo tui, giỏi chân tới hội cao niên sinh hoạt dăm ba bữa. Biết đâu tìm gặp ở đẳng một niềm vui, dẫu bèo bọt.

Cuối cùng thì người đàn bà nhìn thấy khách. Tuy lớn tuổi nhưng lưng bà còn thẳng, dáng vẻ linh hoạt và cái đáng nói là son phấn tuồng như chưa hề bị phụ rẫy một lần trên gương mặt đang tươi cười kia. Bà mặc áo đen có đính những hạt cườm xanh đỏ trước ngực, quần tây màu mỡ gà là thẳng nếp. Trang phục tử tế như thể vị chủ tịch hội phụ nữ sắp sửa diễn thuyết về đề tài Hai Bà Trưng, giặc đến nhà sao bắt đàn bà phải gồng mình uýnh lộn? Đàn ông trốn đi đâu?

– Chào anh. Anh vẫn khỏe?

Bạn ông Bảy gật đầu:

– Dạ, nhờ trời. Chị cũng thường?

Người đàn bà ngó chăm vô mặt ông Bảy, ánh mắt đong đầy những nỗi niềm. Mày lá liễu nhíu, mắt lá răm sắc, sóng thu ba đo lường, lóng lánh tia nhìn tra vấn. Tội phạm mang tên Bảy cứng đờ người, tự hỏi thầm: Ta là ai? Và em là ai? Hy vọng giữa đôi ta chưa hề một lần sơ ngộ. Và như thế, mụ ấy không thể moi ra đống cứt ta từng cất dấu. Cái quá khứ đau thương ấy…

– Mấy anh ngồi chơi.

Bàn có rất nhiều ghế. Như thứ phô trương thanh thế, rằng cao niên rất đông hội viên. Tiếng kéo ghế không làm bận tâm hai tiên ông đang đắm mình vào bàn cờ gần tới hồi tàn cuộc.

– Thiệt đúng lúc, trà uống được rồi đây.

Người đàn bà bày chiếc khay ra giữa bàn. Mười ngón tay, ông Bảy đếm, có ba chiếc nhẫn tròng vào đó. Một vàng và hai kim cương. Vàng ảm đạm, kim cương thì lanh lợi chớp nháy hột nhỏ hột to. Đó là thứ chứng minh nhân dân, đóng mộc vào thân phận người đàn bà. Ông Bảy đón lấy tách trà từ tay người nhiều của. Đẳng cấp ấy quá cao xa. Tôi tên là Trần Trụi, ngoại hiệu Rớt Mồng Tơi. Ông Bảy cười:

– Cám ơn chị

– Xin lỗi anh tên chi?

– Dạ, tên Bảy.

– Anh Bảy qua lâu mau?

– Dạ, cũng chưa được lâu. Coi như mới, thảy đều còn lạ nước lạ cái.

– Trà uống được không?

– Ngon. Dạ, cũng thơm…

– Tui nói có trời chứng giám, anh Lắm như người quân tử, nhân nghĩa lễ trí tín, đức độ đến là thế mà trời sao nỡ sớm bắt đi?

Một quân cờ giáng xuống bàn. Thảng thốt như tiếng nổ của một hòn đạn vừa rời nòng súng. Chết điếng.

– Trà này của người quen từ Toronto mang về phúng điếu. Sẵn đây e mình cũng nên ngậm ngùi ngồi yên tưởng niệm đến anh Lắm đôi ba giây. Chức vị anh Lắm hiện bỏ trống, tuần sau có cuộc bầu bán hội trưởng, anh Bảy nhớ đến chung vui. Có tiệc trà thân mật do chính tay quí chị em chúng tôi đảm trách. Chao! Đời sống này buồn quá, còn gặp nhau ngày nào thì nên vui mừng ngày đó. Tui nói thế liệu anh Bảy nghe có hợp nhĩ không?

– Dạ, chị nói đúng. Ở đời nên lấy cái tình làm trọng. Giàu có chớ khinh khi kẻ nghèo túng, ai cũng là phận di dân!

– Sao giọng điệu anh nghe hệt như anh Lắm? Cái phương ngữ ấy người Cộng sản họ gọi là san bằng giai cấp, người chớ có bóc lột người. Chao! Mệt ngất ngư. Sang hèn chi rồi cũng châu về hiệp phố. Cát bụi cả! Bèo bọt ráo!

Ông Bảy bắt đầu thấy ê mình. Có thể lâu quá ông mới được dịp tiếp chuyện với người đồng hương. Như thiền giả ngồi diện bích trong thạch động đã lâu, nay bước chân xuống đời thuyết pháp dĩ nhiên phải trẹo quai hàm. Xe chạy đường dài, cháy bu-gi lột dên hư xú báp là chuyện thường hằng. Không lấy gì làm lạ! “Xăng có thể cạn, lốp có thể mòn, nhưng số máy số sườn vẫn không hề thay đổi!”

Bạn ông Bảy ngồi nín khe chẳng góp lời. Tôn trọng ý kiến của đôi “trai gái” đang luận tới cái mong manh có trong cuộc sống. Đề tài ấy dẫu nói năm canh cũng chưa thể tàn cuộc. Và không cứ là già đầu, bọn trẻ cũng ưa phát ngôn linh tinh đến nó. Vì thế nghe hoài rất dễ ngấy. Chuyện tình yêu cũng xưa cũ không kém, vậy mà lạ lùng một điều, con này ăn nằm với thằng kia, gã nọ lén vợ đi chơi bời… dẫu nghe bất tận cũng còn nguyên dạng háo hức. Nó luôn rành rành hàng chữ sau đuôi: Xem sang hồi sau sẽ rõ. Hồi hộp khiếp!

Chuyện vãn đang nhạt dần, trà nước thảy đều nguội, ông Bảy chưa biết sắp xếp một câu kết luận phải phép để được rời đi thì lại có thêm một cụ ông hom hem bước vào. Nhân sinh thất thập cổ lai hy! Câu ấy láo. Hay lại nói trớ đi, nhờ bơ sữa của đế quốc nên mới thọ được thế? Cái ấy thậm ngụy biện!

– Anh Bùi.

Người đàn bà reo lên. – Chứ chị ấy đâu?

Kẻ thọ hiếm hoi kia nói mà không nhìn một ai:

– Bà ta đang ở trên chùa làm việc thiện nguyện công quả. Chốn ấy tôi không thể đứng xớ rớ được lâu, lội bộ tới đây ngồi chờ cho được việc.

Ông tên Bùi nhấc hỏng một chiếc ghế nhựa, tìm chỗ khuất lấp ngồi hút thuốc. Nơi đó có dấu sẵn cái gạt tàn bằng nhôm. Nơi đó màu vách có vẻ ám tối, tựa hồ khói thuốc đã làm bức tường bị ung thư.

– Một ngày anh hút mấy điếu?

Người đàn bà hỏi khi mang tới cho ông Bùi tách trà.

– Gần một bao. Tôi ghét đếm số.

– Chẳng một ai ngăn cản?

– Gia đình tôi phật tử thuần thành, đâu ai làm chuyện ác đức thế!

Khói thuốc che mờ một phần gương mặt ông Bùi. Giọng ông ta chẳng hề pha chút diễu cợt. Ông nhấp chút nước, ướt bờ môi:

– Bà chưa nghe vợ tôi phân trần?

– Dạo này lu bu ít khi gặp nhau.

– Cuộc đời này tôi chỉ còn duy nhất một niềm kỳ vọng. Vợ tôi nói. Đó là một ngày kia được trông thấy ông từ bỏ thuốc lá. Như vậy thì nhân danh một người chồng tốt tôi vẫn phải tiếp tục hút, bởi tôi chẳng đành lòng cướp đi niềm kỳ vọng của bà ta. Sống mà không nuôi hy vọng. Giời ơi! Cuộc sống ấy nhạt tựa hồ mồm chẳng ngậm được điếu thuốc thơm.

– Tuần sau có cuộc họp. Anh Bùi nhớ đến.

– Nhớ. Trước đây ông hội trưởng có hút thuốc không nhỉ?

– Không. Tuyệt đối. Anh Lắm là người đạo đức gương mẫu đủ mọi mặt.

– Vậy mà hắn đã chết. Buồn thay! Người đàng hoàng đạo đức sống lâu, xưa nay hiếm! Tôi nói với vợ tôi trên đường đến chùa trưa nay: Hút thuốc có cái lợi, kẻ quen biết cạy mặt chẳng dám mời mình tới nhà chúng. Đó là hạnh phúc số một. Số hai là mình suốt đời thong dong, chẳng ai bầu một đứa nghiện thuốc như tôi vào chức hội trưởng, kế toán, ngoại nội vụ hoặc thủ qũy. Vậy thì xin cứ thỏng tay vào chợ, lim dim khói thuốc ở bờ môi tịnh khẩu.

– Anh Bùi nói nửa đúng nửa sai.

Một tiên ông đứng lên. Bị chiếu bí, giận dỗi xoá hết dấu vết có trên bàn cờ. Ông tiến lại chỗ ngồi ông Bùi.

– Đâu, thuốc đâu? Làm một điếu cho thơm râu.

– Thuốc đây. Cứ thoải mái. Tôi trót nói sai chỗ nào xin cụ chỉ giáo cho.

– Cốt lõi vấn đề nằm ở chỗ anh có ham chức hội trưởng hay không? Ngần ấy thôi. Chẳng cần lôi kéo xì ke ma túy vào cho rách việc. Sao, thích không? Bao bọn này một chầu phở thì tuần sau đổi đời làm hội trưởng một cách đường bệ.

– Không ngửi được. Qúi vị bỏ tiền ra đút lót dụ dỗ tôi thế chân me-xừ Lắm thì họa may.

– Ngược đời! Phàm muốn có vai vế chức phận người ta phải giở trò lòn cúi tranh thủ hối lộ mua quan bán chức chớ. Thôi, sinh hoạt với nhau đã lâu chúng ta biết rõ lòng dạ nhau quá, mượn cái vị mặt mũi mới toanh này làm trọng tài một phen.

Mọi con mắt đều chú mục quang tới ông Bảy. Những con mắt đục bụi trần, duy đôi mắt bà ấy là long lanh. Tinh tường sáng lạng một cách đáng ngạc nhiên. Chẳng biết bà ta xỏ chỉ qua lỗ đít cây kim có dễ không? Ông Bảy gãi đầu:

– Tui biết nói năng chi?

– Kệ, cứ phát ngôn. Mình đang ở xứ tự do dân chủ. Người ngoại cuộc bao giờ cũng sáng mắt hơn.

– Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép anh đây? Tên tuổi còn chưa tường nói chi tới ý kiến này nọ. Quí vị có ưa ăn phở thì chúng ta cùng kéo nhau đi. Tiền qũy của hội sau khi mua vòng hoa phúng điếu anh Lắm còn đúng ba mươi tám đồng, dư sức qua cầu để chào đón anh Bảy ngày đầu đến với hội ta.

Mọi người chộn rộn hẳn lên. Đàn bà họ giỏi hơn đàn ông ở chỗ, biết gỡ rối tơ lòng, biết tháo chướng ngại, tìm ra con lộ hanh thông trong khi hoàn cảnh lâm vào chỗ ngỡ là tắc tị, dễ gây hận thù. Phở. Nó là cái quái gì mà nghe đi kéo ghế thì ai nấy mặt mày linh hoạt, có thần khí ngay. Duy ông Bùi vẫn bình chân như vại, khói dâng mù mờ, khoảng cách đâm xa.

– Sao thế?

– Tôi ngấy phở. Vã, bả về đây tìm không thấy lại sinh chuyện. Lại Nam mô di Phật.

– Xeo phôn đâu? Trình với bả một tiếng.

– Cái gì?

– Không có điện thoại di động, điện thoại cầm tay sao?

– Thứ ấy để bọn trẻ con nó nghịch phá đú đởn chòng ghẹo nhau. Ngần này tuổi ai lại đi ôm của nợ đó? Không thấy chướng tai gai mắt sao?

– Ông này lạc hậu! Ở Việt nam người ta còn bán cả xeo phôn bằng giấy kia. Đời mới, mẫu mã đa dạng.

– Hiện đại nhỉ!

– Chứ sao. Đắt như tôm tươi. Để đốt xuống dưới cho thân bằng quyến thuộc có phương tiện mà réo gọi nhau.

– Khiếp. Địa ngục tối tăm không thấy đường, mày mò sao lại bấm đúng số phôn của ông thì bỏ mẹ.

Ông Bùi cười lớn, tự tán thưởng lấy mình. Người kia thoa đầu tóc lưa thưa:

– Thua. Đấu cờ thua, đấu khẩu cũng thua. Điệu này phải ra tiệm phở gọi đúng một tô xe lửa để gỡ sĩ diện mới được.

Trừ ông Bùi, mọi người đều tới lấy áo khoát, móc trên dãy đinh đóng ngập vào vách. Những chiếc áo thay phiên rời đi, lộ ra toàn phần bức tranh màu nước đã phai nhạt màu. Ông Bảy nghiêng đầu ngắm. Chẳng hiểu tay họa sĩ phóng bút ra thứ cây gì? Một cụm lá rối đâm ngang dọc, tua tủa. Và tại sao người ta lại cố tình máng nó ở đó, hà hiếp nó một cách không khoan nhượng. Bạn ông Bảy giải thích:

– Vách tường ở đó bị thủng một lỗ khá lớn, dùng tấm tranh để che đậy là hợp lý nhất.

– Nó chẳng mấy đẹp phải không anh Bảy? Người đàn bà góp lời. – Trúc có đâu mà kỳ cục thế?

Bạn ông Bảy hỏi:

– Sao chị biết đó là cây trúc?

– Cố hội trưởng bảo thế. Chính anh Lắm mang nó tới chứ ai? Trúc, biểu tượng cho người quân tử.

– Vớ vẩn! Ông Bùi bình phẩm. Ngày xưa tôi đi học, thầy giáo kể chuyện có ông gì đi sứ sang Tàu, táy máy đưa tay rờ rịt vào bức tranh vẽ thật sống động bị người quyền thế họ mắng cho. Cả thẹn, chàng kia đành bào chữa: Trúc là quân tử cớ sao để cho chim chóc, hạng tiểu nhân bám đậu vào? Kẻ hèn này chỉ muốn xua đuổi chim bay đi… Thiệt là quê một cục! Mất mặt bầu cua. Cho hay người Việt mình thì ngu ngơ chậm lụt mãi từ đời ông Bành tổ tới giờ. Mấy đứa cháu tôi bị bố mẹ chúng ép đi học tiếng nước nhà, ngày một ngày hai bèn cúp cua. Chớ cớ sự gì thế các cháu? Ông ơi, cô giáo dạy trước đây người Việt mình biết đẻ trứng. Một trăm cái lận. Chắc họ bắt chước trong phim Aliens. Stupid! Đi học mà nghe người lớn dối gạt, ông biểu chúng cháu phải làm sao? Tôi ngậm bồ hòn làm ngọt, xuội lơ làm đồng minh với bọn nhóc tì.

– Bậy thật! Có ai lại như ông? Chim có tổ người có lông…

Người đàn bà che miệng cười:

– Sao lại mang lông lá vào? Có ai no hair đâu? Chim có tổ người có tông. Xin anh nhớ cho.

– Ừ thì tông. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Tóm tắt là phải cố đừng quên nguồn cội. Ăn phở cũng là cách tôn trọng gìn giữ văn hoá xứ ta. Chẳng ke cholesterol.

– Văn với hoá! Anh về Việt nam lần nào chưa?

– Chưa. Tại sao?

– Anh sẽ cảm thấy lạc lõng bởi chốn ấy không còn ai nói cùng thứ ngôn ngữ với anh. Tiếp thị, công đoạn, khuyến mãi, cường độ, sự cố, cự ly… Đầu anh khi ấy sẽ mọc lên cái ý nghĩ: Mình đang lạc bước tới một tiểu bang của Trung quốc vĩ đại. Made in China, mua một món hàng sản xuất ở đó thì chả có gì phải phấn khởi hồ hỡi cả. Buồn, buồn lắm! Chưa kể bị ngộ độc hồi nào chẳng hay!

Không một ai tiếp lời. Yên lặng vì ngao ngán, hoặc làm thinh vì nhận xét ấy quá xác đáng? Đó là phút giây mà ông Bảy hay biết tên người đàn bà: Trúc. Ông có vẻ chịu đèn, ông luôn đi cạnh bà. Ông mở cửa cho mọi người thong dong cùng bước ra. Ngoài đường chẳng có nắng, gió thênh thang lùa ngang bãi đậu xe trống, mang hàn khí tới, xua đuổi mùi nồng của hoá chất từ tiệm hớt tóc thường trực bủa vây.

2.
Lên thiên đường hay xuống địa ngục. Điều ấy chẳng có nghĩa lý gì để mang ra hù dọa kẻ còn sống. Chết, trước tiên đó là một sự thiệt thòi. Khiếm diện, mất dấu và những người thân quen đón nhận sự bất thường khi ý thức rằng mỗi ngày họ hao hụt mãi những liên hệ quanh mình, thưa vắng dần mọi giây mơ rễ má. Ông Bảy đứng cúi đầu trước chân dung người bạn, ngoại cảnh ủ dột không cướp đi được cái ý nghĩ mà ông vừa suy tưởng. Ông như đứng dưới một cây phong vào cuối mùa Thu. Lá vàng vốn ít, giờ chỉ còn lưa thưa trên cành một hai chiếc đong đưa như tay vẫy gọi. Ông Bảy nhìn tấm ảnh chụp ăn gian, đóng khung gương mặt kẻ trung niên đầy khắc khổ. Gương mặt ấy như nói thầm, moa vốn không mấy vui từ hồi còn sung, giờ này moa đi và moa hài lòng được ngồi trên chuyến tàu suốt. Trong gia đình, con cháu tề tựu đông đủ. Họ chẳng lộ vẻ đau đớn. Nói hạnh phúc thì dường như hơi hàm oan, nhưng họ toại nguyện vì người nằm trong áo quan đã lên đường với tất cả sự êm thắm. Ông ăn cơm chiều xong, ông tháo răng giả ngâm vào ly nước, ông tắm táp, ông thay bộ đồ ngủ sạch sẽ, ông xem DVD cuốn phim “Xuân, Hạ, Thu, Đông… và Xuân” của Nam Hàn và trên chiếc ghế nệm ấm áp ông đã làm một giấc thiên thu. Nhiều người khi nghe kể lại đã ước ao, đến phiên mình, trời gọi cũng xin chắp tay đi hầu ngài với cái cách thức “yên hàn vô sự” ấy. Đừng vật vã đau đớn, đừng dây dưa lâu dài với cuộc đời mà mình luôn bất bình này. Rũ bỏ nợ nần hệ lụy, dứt khoát phủi tay tan biến vào chốn khôn cùng. Đó là niềm kỳ vọng sau rốt của một kiếp người.

Ông Bảy thắp hương, ông hơi buồn vì nhìn quanh không phát hiện ra một gương mặt nào từng sinh hoạt ở hội cao niên. Họ chẳng đến phúng điếu như thể họ sợ hãi vong linh người vừa khuất mặt sẽ nắm tay họ ra đi cho có bạn đường. Ông Bảy nói đôi ba lời khuôn sáo cho phải phép với những người chít khăn tang rồi lặng lẽ rời khỏi nhà quàn. Ông sẽ chết và ai là người đứng ra lo hậu sự? Cái dấu hỏi đó đè nặng vào lòng ông Bảy, để rồi không toan tính, ông đón xe buýt và giật chuông xuống trạm dừng gần nhà người đàn bà tên Trúc.

Cửa mở không lâu sau hồi chuông đầu. Người đàn bà hiện ra với tất cả sự rạng rỡ nơi trang phục, nơi cách trang điểm, nơi mặt hoa da phấn. Dường như bà ấy sẽ đi ra ngoài, đi tới phường hoa đô hội chứ không đi thăm người chết. Sắc màu diêm dúa đó dành cho một cuộc tiệc tùng có hát karaoke. Màu đen, trắng, xám tuyệt không hiện hữu trên người Trúc. Một chút nước hoa phảng phất, nồng đậm tựa bùa mê thuốc lú.

Cửa đóng. Căn hộ dâng tràn sự tịch mịch thân thuộc. Lặng lờ tới độ nghe được cả tiếng đập từ hai trái tim.

– Em đi đâu?

– Không. Em linh cảm là anh sẽ đến. Em có nấu nồi cháo gà nhưng để khuya mới thưởng thức. Giờ thì anh uống trà hay cà phê?

Ông Bảy cởi giày. Ông rất ghét chuyện ấy. Đi thăm nhau mà chẳng khác phải dâng tấu bẩm báo oan ức với quan to. Công đường đã có quy cũ, cũng được đi, nhưng hà cớ gì thuê ấp ở tạm mà cũng chộn rộn bắt chước chuyện cong lưng cúi mình gỡ giây tháo giày? Đời là bể khổ! Phải vậy chăng? Đã biết khổ, sao không giải tỏa bớt đi những rắc rối kiểu này, hở em yêu dấu!

– Cà phê đau tim, trà thì mất ngủ. Anh không uống.

– Hôm nay ai đã làm cho anh buồn bực để đâm dỗi hờn?

– Sao em không tới thắp cho lũy một cây hương?

– Em có nỗi khổ tâm.

Người đàn bà quay lưng. Khổ tâm của ông Bảy là phải đối mặt với những câu hỏi: Vợ anh đâu? Anh có mấy đứa con? Chúng làm gì? Chúng ở đâu? Sao anh một mình bơ vơ ở xứ lạ? Ngàn lẻ một thứ cắc cớ. Vì vậy chưa bao giờ ông Bảy đặt ra những câu hỏi tựa thế cho bất kỳ một ai. Ông chỉ quan tâm tới hiện tiền, quá khứ là cánh cửa vừa đóng sập sau lưng. Mở nó ra làm gì? Nó bày biện cả một trời bất hạnh. Ông Bảy đi theo sau lưng người đàn bà. Đôi vớ ông mang như chẳng bám được vào nền gỗ. Ông không thấy thăng bằng. Nếu té, ông sẽ bổ nhào tới ôm lấy tấm lưng tròn trịa kia. Cái nịt vú, cái lưng quần, chia đều những ngấn thịt. Tựa hồ ai kia đã gói cột đòn bánh tét một cách vụng về. Tết sắp đến, ông Bảy nhớ là đã quá lâu ông chưa hề ăn lại thứ bánh nếp nhân thịt mỡ và đậu xanh đãi vỏ kia. Ông thích cắt từng lát mỏng, chiên trong chảo dầu. Để lửa nhỏ, riu riu, thong thả trở mặt, dục tốc bất đạt. Vàng ươm, dòn rụm. Chấm chút nước mắm ớt… Ông nuốt nước miếng.

– Hay anh uống bia?

– Ừ. Trời trở, làm đại một chai cho ấm người.

Người đàn bà mở tủ lạnh. Trong đó có vẻ trống trải, ngọn đèn nhỏ ẩn mình ở góc kẹt vì thế mà dường như sáng quắc. Đầu chỗ ông Bảy cũng vậy. Không mấy khi đèn đuốc tối tăm vì bị lu hủ thịt thà rau quả che choáng. Nó sáng, vì chủ nó độc thân. Chủ nó già, chủ nó chẳng thiết tha miếng ăn. Lai rai ba sợi cũng phải có bạn hiền. Mình ên nuốt hổng trôi.

Ông Bảy ngồi xuống ghế. Chiếc bàn ăn nhỏ, bồn rửa chén, lò điện rồi tới tủ lạnh. Ông thấy cánh cửa phòng ngủ mở rộng. Tờ lịch lớn treo trên vách in hình tài tử Trung quốc (hay Hồng-kông?) Thập diện mai phục hay Vô gian đạo? Cầm gươm hay nắm súng? Chiếc giường trải ra phẳng phiu, gối vun đầy chẳng có dấu tích người nằm để hằn xuống vết trủng. Khuê phòng hay lãnh cung?

– Khi nào đói thì cứ cho em biết. Cháo gà dễ ăn, chẳng nặng bụng.

Ông Bảy đón lấy chai bia. Ông vặn nắp và thấy không khó như ông nghĩ.

– “Khuya nay em cắt cổ con gà vàng, để chi mai nó gáy hai đàng biệt ly!”.

– Trời! Xịn quá ta. Anh Bảy cũng biết sáng tác thi phú nữa sao? Nghe mà rụng rời!

– Thi phú gì? Tối tác gì? Cái đó gọi là văn chương truyền khẩu. Tại em nấu cháo gà. Tại mới đó mà người kia đã lặng lẽ biệt ly.

Người đàn bà lộ vẻ buồn. Ngồi xuống ghế đối diện ông Bảy, tay chống cằm, nhìn mông lung. Tia mắt xa vắng, không thu nhận vật thể. Ngó là ngó rứa thôi. Giây phút yên lặng như mặc niệm trôi qua. Người đàn bà nói ơ hờ:

– Con gà nằm trong nồi kia là gà thả.

– Em bảo sao?

– Không phải gà công nghiệp hằng hà sa số lúc nhúc đứng chen vai thích cách trong chuồng.

– Gà đi bộ thong thả? Chắc thịt ngon hơn? Xưa kia, mình cũng có một thời được thả, giờ thì thịt thà bở rệt, nhão nhẹt, ngó mất ham. Mình cũng đang nằm trong nồi, đúng không? Hiểu ở một nghĩa nào đó.

– Ý anh muốn nói: Sống đây mà như chết rồi?

– Ừ. Buồn vô hậu phải không Trúc?

– Em không nghĩ vậy. Chắc tại anh vừa đi gặp mặt người chết, trong đầu còn đọng lại hình ảnh thê lương.

Ông Bảy uống hết chai bia. Có thể bà ấy nói đúng. Như mũi ông, đã yên vị chốn này rồi mà sao vẫn còn ngửi ra mùi khói hương? Trầm uất và tử khí. Lý ra phải hít được thịt da nồng nàn của chị gà mái đang trầm mình trong những hạt gạo mềm nhừ. Lý ra phải say hương hoa nhẹ toả từ cơ thể người nấu cháo gà kia.

– Đó là cái tâm lý bình thường, như em từng gặp phải hôm đưa đám anh Lắm. Em đã rầu đời, hiu hắt cả tuần lễ sau đó.

– Lắm? Tay đó ra sao mà trong mọi câu chuyện em thường để gã chen vào?

– Đó là người có cảm tình sâu đậm với em. Những đứa con của ảnh cũng đồng tình xúi dục: Ba hãy đến với dì Trúc cho đời có chút màu hồng. Lắm, là người đàn ông từng mang lại cho em ít nhiều thi vị, dìu em bước ra khỏi niềm cô quạnh luôn vây bọc. Lắm, anh ấy từng ngồi trên cái ghế mà anh đang ngồi. Cái tên cũng lạ. Nhiều lắm, khổ lắm, sướng lắm, chán lắm, vui lắm. Anh thấy không? Đói lắm, no lắm, mệt lắm. Gì cũng lắm!

– Anh có điểm nào giống Lắm không?

– Lần đầu nhìn thấy anh ở hội cao niên em đã thót tim. Mái tóc, vầng trán, cái sống mũi… Em nhủ thầm, trời đất ơi, có phải hoàng thiên đã rộng lòng làm luật bù trừ cho em. Một kẻ ra đi không lâu liền có người khác hiện hữu, lò dò dẫn xác tới.

– Cho anh thêm chai bia.

– Không. Anh không có quyền uống nhiều như thế. Em ghét người say.

– Anh vốn đang say. Những người từng sinh hoạt đằng hội cao niên nói chùng vụng rằng chính em góp phần mang tới cái chết cho ông hội trưởng Lắm.

– Anh tin không?

– Chuyện ruồi bu. Hơi đâu anh phải để ý tới ba cái vớ vẩn nọ?

– Em có nốt ruồi mọc ở chỗ kín. Sách vở của thuật bói toán phán rằng, nếu qúy bà nào được vậy thì sanh con toàn cả qúy tử, gia đạo an vui, chồng mê mệt không cách gì ham của lạ, tơ tưởng chuyện mèo mỡ gà đồng. Kết quả là gì? Một con số không. Láo, đặt điều cả!

– Chắc là tay Lắm từng nhìn rõ hạt nốt ruồi vô giá kia?

– Thấy chưa? Em chúa ghét người say. Bia đang nói, có phải không?

Ông Bảy nhìn vào phòng ngủ. Ông ngó tấm lịch.

– Chắc là em biết Lý Tiểu Long? Cái chết của Bruce Lee mờ ám tới độ có dạo báo chí Hồng kông ngờ rằng ổng bị thượng mã phong.

– Thượng mã phong là sao? Gió trên lưng ngựa? Hề hấn gì với kẻ từng tu luyện kung-fu?

– Nói gì thì nói, anh vẫn thấy đó là cái chết đẹp đẽ nhất. Người quân tử chê bai, đồ hạng phàm phu tục tử phơi thây trên bụng đàn bà. Nhạc sến thì hát hỏng, đi không trọn đường tình. Chết ở cái thời điểm không nên chết.

– Đúng quá chứ còn gì nữa. Xin anh hãy nghĩ tới kẻ bên dưới một chút. Họ sẽ đau đớn và sợ hãi biết dường nào khi mở mắt chứng kiến kẻ yêu mình đang tắt thở. Mới năng nổ lao động đó, mới loay hoay như gà mắc đẻ đó, vậy mà biến đổi ngay thành một tử thi, da thịt lạnh lẽo. Khiếp!

– Anh không hớt tóc húi cua. Anh nuôi tóc, dù đã bạc đầu.

– Chi vậy?

– Để cho em dễ nắm, em sẽ giật rụng hai bên mai và khi đó hồn anh không thể du địa phủ. Ba hồn chín viá sẽ lộn lui làm anh lai tỉnh. Người ơi, tui vẫn đi trọn đường tình.

– Dịch vật. Già không nên nết!

Người đàn bà phán. Và ông Bảy phải hiểu ra “không nên nết” là một đức tính đáng tưởng thưởng, cần tuyên dương. Người ta chẳng thể sống mãi được với những điều răn. Đạo đức sẽ làm họ biến dạng thành một con gà nuốt giây thun. Viện cớ nhức đầu vì bia, ông Bảy xin được ngã tấm lưng xuống tấm nệm gợi mời kia.

A. Ông sẽ thiếp một giấc ngon.

B. Ông sẽ thao láo con mắt nằm đợi một điều gì đó tới trong len lén, ngần ngại, rụt rè.

C. Ông sẽ vùng dậy đòi ăn cháo gà rồi mặc áo mão mang hia xăm xăm trở về chỗ thường trú trong đêm vắng.

Trong ba giả thiết, điều B có vẻ gần gũi với sự thật.

Không mấy lâu, ông nghe được bước chân đi lại gần. Ngọn đèn vàng ngoài bếp thu hẹp dần nguồn sáng bởi cánh cửa vừa nhẹ khép. Chẳng đóng kín, vì bóng tối sẽ làm người ta vấp ngã, sẽ làm khó đôi mắt. Nhờ nhợ, đủ để ông Bảy nhìn ra cốc nước óc ách, sóng sánh, xô động trong tay cầm của người đàn bà.

– Uống cái này đi.

– Anh đã nốc hết chai bia. Chưa giải thủy, sao lại bắt dộng thêm thứ này vào?

Hai tay đều bận bịu. Lòng bàn tay trái mở ra, chìa tới cho ông Bảy thấy một viên thuốc.

– Đừng nói nhiều. Ngồi dậy. Nghe lời em đi.

– Để anh nhớ lại, bao lâu rồi anh mới hưởng được phút giây sung sướng này. Săn sóc, thăm hỏi, ân cần, quan hoài tới cái mạng già này. Đó là những thứ đã li dị anh gần nửa đời người.

Không lấy thuốc vội, ông Bảy vuốt ve bàn tay người đàn bà. Da ở đó chưa nhăn nhàu, còn tươi mát; nhưng với kiến thức căn bản, người đàn ông tên Bảy hiểu Trúc đã qua thời kỳ mãn kinh. Có nghĩa là dẫu ở chỗ kín mọc lên hàng trăm nốt ruồi quý tướng Trúc cũng không thể đẻ đái ra hoàng tử công chúa. Cái giếng nước mát ngọt kia đã bốc hơi, đã khô ráo. Nhắm mắt ném xuống một đồng tiền với lời khẩn cầu trong thành tâm cũng hun hút chẳng nghe tiếng hồi âm vọng dội.

– Thuốc gì đây hả em?

Nghe hỏi, bàn tay chợt nắm lại, giữ chặt lấy viên thuốc.

– Sao bảo là nhức đầu? Thực ra thì anh muốn uống thứ gì?

– Anh không biết gọi tên. Thứ mà anh Lắm uống mỗi khi gần em.

– Đồ dê chúa. Sức mọn đừng vác nặng. Đã nghe câu tục ngữ ấy chưa?

– Câu đó dài sao em nỡ cắt ra phân nửa. Phần sau là: Lời nhẹ chớ khuyên người! Anh là đầu con vịt, em chớ hoài công đổ nước lên, chẳng thấm đâu.

– Cầm ly nước đi, ông thánh. Để em đi lấy thuốc hầu ngài.

Ông Bảy đặt ly nước trên table de nuit. Rũ mền phủ đắp toàn thân, trăn trở vặn vẹo cho xương cốt được thư giãn. Tấm nệm dưới lưng reo vui nhún nhảy, có vẻ hớn hở. Đằng chỗ ông Bảy thì khác. Nệm cứng, mua garage sale và hầu như nó luôn thù tiếp ông bằng sự lạnh lẽo cố hữu. Tự thân nó, xông lên thứ mùi khó giải thích chứ chẳng được thơm tho tinh khiết như ở đây. Nói chung, những thứ có mặt trong ấp này đều đáng yêu cả. Sự cố này người Việt gọi là hàng độc, siêu xịn, đồ hiệu, khó đụng hàng, rất ấn tượng ở đời thường.

– Hên cho anh, chỉ sót lại đúng một viên.

….

– Sao không chiêu một ngụm nước. Ăn tươi nuốt sống vậy sao?

– Uống nước sẽ làm loãng thuốc đi.

– Kỳ cục!

– Nằm xuống đây bồ tèo, trong mền ấm lắm.

– Ai lại không biết điều đó. Trong chăn có rận không?

– Hình như có. Anh ngứa ngáy lắm.

– Để em đi kiểm tra cửa nẻo bếp núc điện nước lần cuối.

Ông Bảy nghe tiếng lục đục phát ra từ phòng vệ sinh. Tiếng nước chảy, tiếng dội cầu. Robinet mở, vòi nước khoá kẻo kẹt. Đèn đóm tắt ngúm. Cuối cùng là mùi thơm, như hoa dạ lý nở bông thật gần.

– Đã nghe rục rịch gì chưa?

– Mau vậy sao?

– Để em đốt một cây hương.

– Chi vậy? Tưởng niệm anh Lắm à?

– Đừng ăn mắm ăn muối nói quàng nói xiên. Để đo thời khắc. Sau này lỡ có truyền đạt kinh nghiệm cho ai thì anh có chứng cớ. Ừ, hương cháy đâu khoảng một phần ba thì tui biến thành cha già dịch ngay.

– Trúc à, sao anh thấy em nói câu nào ra cũng mặn mà đáng yêu hết á. Láo chết.

– Mà ít ra thì anh cũng nên vận động trí óc một phần, chớ có ỉ lại giao mạng cho thuốc thang.

– Phát huy sáng kiến nữa sao?

– Hãy nghĩ tới một cái gì đó. Cái mà anh thiếu thốn đã lâu, cái mà anh thèm khát.

– Lỡ anh là bợm nhậu, trí óc anh hiện ra một két bia thì hỏng việc.

– Lúc nào cũng cắc cớ. Không chừng về khoản này anh dám thua kém anh Lắm.

– Được lắm. Đàn ông rất dễ tự ái. Em cứ chọc giận thì anh sẽ sung ngay.

– Hy vọng thế. Sung chớ đừng nổi sùng. Em chúa ghét hạng đàn ông cộc cằn lỗ mãng.

– Mình biết tánh tình nhau quá mà. Nằm xuống đây đi Trúc, thứ cây biểu tượng cho người quân tử, để anh chỉ cho em xem cái vật tượng trưng hạng tiểu nhân.

Đêm đó, ông Bảy ăn hết hai bát cháo gà. Uống hết hai chai Bud ướp lạnh. Người ông nóng, và lạ lùng thay ông đủ sức dắt bà Trúc đi qua hai lần cửa, cảnh giới ở đó thật khác thường, lung linh rạng ngời, làm người ta phải nhắm mắt lại mà rên xiết trong sướng sung. Nửa đêm về sáng, ông Bảy đi đái với đôi chân run. Ông rảy cho khô vòi nước mềm oặc và ông nói với cái mặt già đọng trong gương soi: Ủa, mày chưa chết sao?

3.
Trung tâm thẩm-mỹ-hớt-sấy-gội-nhuộm-chuyên-trị-làm-nail ngày mỗi phát đạt. Láng giềng nó là tiệm bán bánh-mì-thịt-nguội-nem-giò-chả-đủ-loại-chè vì thế cũng đông bạn hàng, người vào kẻ ra ăn tại chỗ hoặc gói mang về. Khó kiểm tra lượng khách ở tiệm bán bánh mì, nhưng chỗ hớt tóc thì dễ nhìn thấy qua chứng tích để lại trên nền gạch hoa. Tóc vụn quét tém vào góc, cao một cách khó chịu, ngứa ngáy mắt nhìn. Khách vào tiệm đa phần là đàn bà con gái, dung nhan có điều gì tiềm ẩn làm bạn phải hoài nghi chuyện thật giả. Nếu bạn là phóng viên cho một tờ báo lá cải rẻ tiền, bạn chịu khó căng lỗ tai ngồi đấy khoảng một giờ, màng nhĩ bạn đầy ắp những lượng thông tin rùng rợn, chuyện dài của khúc ruột ngàn dặm. Trong tiệm có đặt mua hai tờ tuần báo, tiếng nói địa phương, cho khách khứa đọc lai rai khi ngồi chờ tới phiên. Tiếc thay, cả hai đều là báo chợ, quảng cáo chiếm hai phần ba số trang, cầm bẩn cả tay. Nếu bạn khó tính, bạn sẽ đánh giá thấp những kẻ mó tới món ăn tinh thần nọ. Nếu bạn dễ dãi, đợi hớt tóc ngoáy tai lấy ráy, buồn tay vớ nó lên xem thì mắt bạn sẽ vấp phải Kết bạn bốn phương, hỏi đáp chuyện trở ngại phòng the, tử vi trọn tuần, tin về tài tử điện ảnh, truyện ma và túi bụi lùng bùng chuyện dài hình sự ở quê nhà. Gái điếm, thôn nữ đăng ký lấy chồng ngoại bất kể tật nguyền bệnh tật. Ma túy, thuốc lắc. Con đâm cha, mẹ đổ cường toan vào mặt con. Bố ghen tuông đốt lửa người tình. Dâu ngủ với cha chồng, đồng sàng đồng mộng… Nhân danh Cha, thánh thần… Amen. Hết thuốc chữa! Nhức đầu choáng váng thì chỉ còn biết đọc các ô quảng cáo bán nhà bán xe cần người giữ trẻ sang gấp cửa tiệm… Có hàng chữ nhắn tin đăng ở góc khiêm nhường: ” Tìm cô Nguyễn thị Hoa Lài, con ông Nguyễn văn Bảy. Trước 75 sang Pháp du học. Nay ở đâu xin liên lạc gấp để biết tin cha đang đau nặng. Quý vị đồng hương ai hay biết cô Lài xin viết thư hoặc điện thoại mách bảo cho bà Trúc. Số sau đây… Thành thật cám ơn.”

Bà Trúc nào vậy cà? Thắc mắc hả? Thử hỏi bà chủ tiệm một phen. Đấy, bà nhuộm tóc đỏ mặc quần bò ấy. Quần bò là quần gì? Cái ông này. Đồ dở hơi! Ba mươi giây sau, bà chủ xẹt tới. Jeans Versace bó lấy cái mông luôn khiêu khích vật vã mỗi khi uốn lượn đi kiểu mình xà: Bà Trúc trước đây thường đến sinh hoạt với hội cao niên. Thực sự thì bà còn trẻ, nhăm hai tuổi là cùng. Em biết bà ấy vì cùng gặp ở chỗ giải phẩu sắc đẹp. Nghe giang hồ đồn, ông nào ăn nằm chung đụng với bà ta đều chung số phận từ chết tới bị thương. Hội cao niên thì giải tán rồi, nhường chỗ cho tiệm bán bánh mì thịt nguội. Buôn bán phải hỗ tương cho nhau, trước đây kề cận toàn ông già bà cả chán bỏ mẹ, chẳng thu hoạch được gì! Thôi, giả tiền cho em đi chứ. Vừa hớt vừa sấy tổng cộng hai mươi nhăm đô. Khẩn trương lên!

Khách đi ra. Bất ngờ trời giáng cho trận mưa rầm rộ. Nghe ngói, dầm dề. Chưa chiều mà màu sắc u ám trông nẫu cả người. Ở Canada, thống kê rõ ràng là cứ đến mùa này số tử vong tăng lên rất cao. Cho hay đất trời và thời tiết ngoại cảnh ảnh hưởng lớn lao đến số phận một kiếp người.

Ông Bảy nhập viện đúng mười ngày. Ổng nằm hấp hối trên giường bệnh đã hai hôm. Trúc không vào thăm đã bốn tám tiếng đồng hồ, lâu thật lâu có bà y tá dáng dấp đẫy đà chậm chạp vén màn nghiêng đầu vào ngó chừng. Không nhìn mặt ông, chỉ trông lên những con số xanh đỏ hiện ra trên máy nhiều dây nhợ chằng chịt. Tấm màn vải rung động và bà y tá biến mất như một con ma. Yên ả tựa một nhà mồ. Nếu chết, ông Bảy chẳng có điều gì trối trăn, gửi lại nhân gian. Nếu Trúc vào, ông sẽ thì thầm bên tai Trúc: Ở đây vắng vẻ không ai, anh ước nguyện chỉ một điều, vạch quần xuống chỉ cho anh trông rõ hạt nốt ruồi quý báu của em. Anh sẽ cất giữ hình ảnh đó ở võng mô, mắt anh sẽ nhắm và trước khi qua cầu húp cháo lú anh sẽ hét thật to ở bến sông Mê: Anh yêu em.

 

Mưa mãi không tạnh. Khi taxi đổ bà Trúc xuống trước thềm bệnh viện trung ương Montréal, ngước mặt dòm trời, tuyết mỏng bay vần vũ lạnh căm. Trắng toát.

Hồ Đình Nghiêm

Ý kiến

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s