• tác giả

Khahlil Gibran – Iram,Thành đô cột cao ngất


Nguyễn Ước
dịch

“Các người không thấy cách Thượng đế của các người
đối xử với dân Âd của Iram với những cây cột cao ngất,
cái giống như thế không được tạo ra
trong toàn bộ cuộc hiện sinh sao?”
(Thiên kinh Qu’rân)

Dân tộc Âd với Ngôn sứ Huâd thường được kể lại trong Thiên kinh Qu’rân, và các truyền thống của họ thuộc về A-rập cổ đại. Các tổ tiên lấy theo địa danh Âd ấy thuộc thế hệ thứ tư tính từ Nô-ê, nhân vật chính trong trận lụt Ðai hồng thủy. Một trong ba con trai của Nô-ê là Sem; Sem sinh ra A-ram; A-ram sinh ra Aus; và Aus là tổ tiên của người Âd.

Dân tộc Âd chiếm lĩnh một vùng đất mênh mông tại miền nam A-rập, chiều rộng từ Um-man ở cửa Vịnh Ba Tư tới Hadramaut và Yemen ở cuối miền nam của Biển Ðỏ, và chiều dài gồm các khu vực cát quyện vào nhau (ahqaf) trong lãnh địa của họ, được làm cho dịu và ẩm bằng nhiều sông đào.

Với tầm vóc cao lớn, người Âd là những nhà xây dựng và thợ nề tuyệt vời. Tuy thế, như vẫn thường xảy ra, các tiến bộ vĩ đại của họ đưa tới kết quả từ bỏ đấng Thượng đế chân chính, và những kẻ lãnh đạo họ gây thống khổ cho dân chúng bằng chính sách áp bức của một nhà nước thuộc loại hà khắc nhất.

 Trước hết, người Âd chịu một nạn đói đến viếng suốt ba năm, nhưng họ không xem đó như một lời cảnh cáo. Cuối cùng, một luồng gió nóng cực kỳ khủng khiếp hủy diệt họ cùng với nền văn minh của họ. Vết tích lưu lại là dân tộc Thamuâd, được biết tới như là Ðệ nhị Âd. Những hậu duệ này sống sót nhờ tự cứu được mình nhưng rồi sau đó cũng chịu chung số phận với tiền nhân, có lẽ do bởi chính tội lỗi của họ.

Mộ của Ngôn sứ hay còn gọi là Sứ giả Huâd (Qabr Nabi Huâd) tới nay vẫn mở cửa cho khách hành hương, tại vĩ tuyến 16 độ bắc, và kinh tuyến 49.5 độ, khoảng 150 cây số phía bắc Mukalla (Yemen). Khắp vùng lân cận đó có nhiều tàn tích và văn bia. Cuộc hành hương hàng năm tới địa điểm này diễn ra vào Rajab, tháng thứ bảy trong năm tính theo lịch Hồi giáo.

Iram, nằm ở miền nam A-rập, dường như là kinh đô của xứ Âd cổ đại ấy; theo truyền thuyết, nó rất kiêu hãnh về kiến trúc cao ngất trời của mình. Tuy vậy, danh xưng ấy gây nhiều tranh luận. Một số nhà khảo cổ và sử gia tin rằng Iram là tên gọi một số vị anh hùng của dân tộc Âd. Nếu điều đó đúng, cụm từ mô tả “các cột cao ngất” không áp dụng cho những công trình xây dựng vĩ đại, nhưng cho chính dân tộc ấy vì dân tộc Âd là một giống nòi cao lớn.

Khu vực thường mang địa danh Arabia Felix này là nguồn quan tâm, mộ đạo và phồn vinh của nhiều người A-rập vì người ta tìm thấy trong các di tích cổ đại của nó nhiều đồ vật có giá trị tiền tệ, tôn giáo và lịch sử. Trong thời đại Muawiyah (602-680) đã phát hiện một nơi tàng ẩn vô số đá quí; và mới gần đây, tại Najam, lộ ra ngoài ánh sáng một số bức tượng bằng đồng, bạc hoặc vàng trên đó có khắc văn tự Sababae. Các cổ tích này được mô tả trong Quí san Bảo tàng viện Anh quốc (British Museum Quarterly), Quyển A, tháng Chín năm 1937.

 Nguồn tư liệu về dòng dõi và điạ lý kể trên được lấy từ Thiên kinh Qu’rân. Có lẽ Kahlil Gibran đặt cơ sở cho vở kịch “Iram, Thành đô cột cao ngất” (Iram, the City of Lofty Pillars) trên các thông tin hoặc trên các huyền thoại phương Ðông tương tự, chung một mạch tổng quát với sản phẩm tưởng tượng của A-rập; có thể tóm tắt như sau:

 “Khi Shaddad, con trai của Âd trở thành Ðại đế của Thế gian, ông hạ lệnh cho một ngàn Tiểu vương đi tìm cho ông một miền đất rộng lớn, dồi dào nước và không khí trong lành, để ông có thể dựng lên trên đó một Thành đô Hoàng kim (Golden City), cách xa vùng núi non. Các Tiểu vương, mỗi người mang theo một ngàn tùy tùng, đi lang thang khắp địa cầu để tìm cho ra.

 Sau khi tìm được vùng đất như thế, các kiến trúc sư và các nhà xây dựng lập nên bên trong nó một đô thị vuông vức, có chu vi 65 cây số. Họ xây một vòng thành lớn, mỗi cạnh dài 250 thước, bằng mã não, bọc bằng vàng lá, làm hoa mắt khi ánh mặt trời chiếu vào.

 Ðại đế Shaddad còn sai thần dân đi khắp thế gian với mệnh lệnh đào vàng dưới đất dùng làm vữa xây gạch. Ông xây bên trong vòng thành một trăm ngàn dinh thự cho một trăm ngàn quan chức của vương quốc. Các dinh thự được dựng lên trên những cây cột làm bằng thạch anh và hồng ngọc trộn lẫn với vàng; mỗi cột cao năm chục thước, chọc trời.

 Và các dòng sông được dẫn vào thành đô, trỗ nhánh qua các dinh thự. Ðường trong thành đô làm bằng vàng, đá quí và hồng ngọc, chạy qua các dinh thự tô điểm dư dật với vàng và bạc. Dọc bờ sông, cắm các cây cành vàng lá ngọc, còn quả bằng mã não và ngọc trai. Vách của các dinh thự trang điểm bằng xạ hương và long diên hương.

Ðại đế Shaddad lập cho riêng ông một ngự uyển với cây cối bằng bích ngọc và hồng ngọc, trên mỗi cành đều có lũ chim đang hót, đúc bằng vàng nguyên chất”.

Nguyễn Ước

 

Vở kịch

Iram, Thành đô cột cao ngất

Ðịa điểm của vở kịch: Cánh rừng nhỏ trồng bạch đàn, lựu và hạch nhân (óc chó). Trong rừng này, giữa sông Orantes (Nar el’Asi) và làng Hermit, có một ngôi nhà rất xưa, đứng cô quạnh giữa một khoảng đất trống.

Thời điểm của vở kịch: Giữa tháng Bảy năm 1883, lúc xế chiều.

Nhận vật của vở kịch:

Zain Abedeen xứ Nahawand: bốn mươi tuổi, tín đồ Hồi giáo phái Dervish Ba Tư và là nhà huyền học;

Najeeb Rahmé: ba mươi tuổi, học giả người Li-băng;

Amena Divine: Không rõ tuổi, nổi tiếng về quyền năng ngôn sứ (tiên tri) và huyền học ở trong vùng, như một Houri của Thung lũng. (Houri có thể hiểu như tiên nga, trẻ đẹp và bất tử trong thiên đàng của Hồi giáo).

Màn kéo lên cho thấy Zain Abedeen đang ngồi dưới một tàng cây, đầu tì lên một bàn tay, bàn tay kia cầm chiếc gậy dài, vẽ các hình tròn trên mặt đất. Sau đó không lâu, Najeeb Rahmé cỡi ngựa đi vào khoảng đất trống. Anh xuống ngựa, cột dây cương vào một thân cây rồi phủi bụi trên quần áo, và tới gần Zain.

NAJEEB: Bình an ở cùng ông, thưa ông!

ZAIN: Và bình an ở cùng anh. (Nói xong, ông quay mặt sang một bên, thì thầm với chính mình): Bình an chúng ta sẽ chấp nhận… ngoại trừ ưu quyền? Ðó là một vấn đề khác.

NAJEEB: Thưa có phải đây là chỗ ở của Amena Divine?

ZAIN: Ðây chỉ là một trong vài chỗ trú ngụ của nàng. Nàng không sống ở chỗ nào cả, tuy thế nàng hiện hữu ở mọi chỗ.

NAJEEB: Tôi đã hỏi nhiều người nhưng chẳng ai biết Amena Divine có vô số chỗ ở.

ZAIN: Ðiều đó chứng tỏ rằng người đưa tin cho anh là kẻ chỉ có thể thấy bằng mắt hoặc chỉ có thể nghe bằng tai. Amena Divine ở mọi nơi (đưa gậy chỉ tới hướng đông) và lang thang khắp các gò đống và các thung lũng.

NAJEEB: Thế hôm nay nàng có quay lại chỗ này không?

ZAIN: Trời đang muốn như thế, nàng sẽ quay lại đây hôm nay.

NAJEEB: (Ngồi xuống trên một tảøng đá trước mặt Zain và đăm đăm nhìn ông): Bộ râu của ông nói cho tôi biết ông là người Ba Tư.

ZAIN: Ðúng vậy, tôi sinh ra ở Nahawand, kế cận Sheezar, học hành ở Nisabour. Tôi đã đi khắp hai phương trời đông tây của thế giới rồi trở về đây vì tôi thấy ở đâu mình cũng chỉ là người lạ.

NAJEEB: Chúng ta là đều người lạ đối với bản thân mình.

ZAIN: (Không để ý tới ý kiến của Najeeb): Quả thật tôi đã gặp gỡ và chuyện trò với hàng ngàn người. Tôi chỉ tìm thấy những kẻ mãn nguyện với cái gần gũi chung quanh họ. Họ tự giam mình trong nhà tù chật chội của họ. Và đó là cái độc nhất mà họ biết và họ thấy trong thế giới bao la này.

NAJEEB: (Hoang mang vì những lời của Zain): Bộ không phải bản tính tự nhiên của con người là gắn bó với nơi chào đời của nó sao?

ZAIN: Kẻ bị hạn chế trong tâm hồn và trong ý nghĩ thì có khuynh hướng yêu thích những gì bị giới hạn trong cuộc sống. Kẻ mắt kém thì không thể nhìn xa hơn nửa thước trên con đường y đang đi, cũng không thể thấy xa hơn nửa thước của bức tường y đang dựa vai vào đó.

NAJEEB: Không phải hết thảy chúng ta đều có khả năng, bằng con mắt bên trong của mình, thấy những chốn rất sâu thẳm của cuộc đời sao? Và thật nhẫn tâm khi đòi hỏi người mắt kém phải thấy cái lờ mờ lẫn cái xa xa.

ZAIN: Anh nói đúng, nhưng có tàn nhẫn hay không khi ép quả nho xanh để lấy rượu?

NAJEEB: (Sau một thoáng im lặng trầm ngâm): Suốt nhiều năm trời, tôi đã nghe nhiều chuyện về Amena Divine. Tôi cảm thấy mình rất háo hức về những chuyện đó. Tôi quyết định đi gặp nàng và hỏi han những bí mật và những điều huyền bí của nàng.

ZAIN: Không một ai trên thế giới này có khả năng sở hữu những bí mật của Amena Divine, giống như con người không có khả năng đi lang thang dưới đáy biển như thể dạo chơi trong vườn.

NAJEEB: Thưa ông, xin ông thứ lỗi, có lẽ vì tôi chưa trình bày rõ mục đích của mình. Tôi biết rằøng mình không có khả năng sở đắc cho bản thân những điều huyền bí của Amena Divine. Hi vọng chủ yếu của tôi là sẽ được nàng kể cho nghe câu chuyện nàng đi vào Iram, Thành đô cột cao ngất, và kiểu cách của những thứ mà nàng tìm thấy trong Thành đô Hoàng kim đó.

ZAIN: Anh chỉ cần đứng với thái độ chân thành ở cửa vào giấc mộng của nàng. Nếu cửa mở, anh sẽ đạt mục đích. Còn nếu cửa không mở, lúc ấy kẻ chịu trách nhiệm chính là bản ngã của anh.

NAJEEB: Tôi không hiểu nổi những lời lạ lùng của ông.

ZAIN: Chúng giản dị thôi… Rất giản dị khi so sánh với phần thưởng to lớn anh sẽ nhận được nếu anh thành công. Amena Divine hiểu người đời hơn người đời hiểu bản thân họ. Chỉ bằng một liếc mắt, nàng có thể nhận biết những cái ẩn giấu trong lòng họ. Nếu thấy anh xứng đáng, nàng sẽ sung sướng chuyện trò với anh, đặt anh lên lối đi chân chính dẫn tới ánh sáng. Nếu không, nàng sẽ lơ là anh với một sức mạnh chứng tỏ sự phi hiện hữu của anh.

NAJEEB: Ðể chứng minh rằng mình xứng đáng, tôi nên làm gì và nên nói gì?

ZAIN: Thật vô ích và uổng công nếu ra sức tiếp cận Amena Divine hoàn toàn bằng ngôn ngữ và cử chỉ, vì nàng không nghe, không thấy. Nhưng qua linh hồn của đôi tai nàng, nàng sẽ nghe rõ những gì anh không nói, và qua linh hồn của đôi mắt nàng, nàng sẽ thấy cái anh không thấy.

NAJEEB: Những lời của ông khôn ngoan biết bao và tuyệt vời biết bao!

ZAIN: Nếu tôi có nói về Amena Divine trong suốt một trăm năm đi nữa, thì hết thảy những gì tôi muốn nói ấy chẳng là gì cả, mà chỉ là tiếng ậm ừ của một người câm đang vật vã để hát lên thành tiếng một khúc ca đẹp đẽ.

NAJEEB: Ông có biết người nữ lạ lùng này chào đời ở đâu không?

ZAIN: Thể xác của nàng được sinh ra trong vùng lân cận của Damascus, còn hết thảy những cái khác, những cái lớn lao hơn bản thể, thì được sinh ra trên lồng ngực của Thượng đế.

NAJEEB: Còn về cha mẹ của nàng thì sao?

ZAIN: Cái đó có liên quan gì không? Liệu anh có thể tìm hiểu chính xác một thành tố bằng cách xem xét bề mặt của nó? Anh có thể nói được mùi vị của rượu nho bằng cách đăm đăm nhìn chiếc bình không?

NAJEEB: Ông nói đúng. Tuy thế, chắc chắn phải có mối nối kết giữa tinh thần và thể xác, cũng như phải có dây quan hệ giữa thể xác và những gì gần gũi chung quanh nó. Trong khi không đặt đức tin vào sự ngẫu nhiên, tôi tin rằng tri thức và bối cảnh của Amena Divine sẽ có giá trị cho tôi trong việc thăm dò bí mật cuộc đời của nàng.

ZAIN: Nói khá lắm! Tôi không biết gì nhiều về thân mẫu của nàng trừ việc bà ấy qua đời khi sinh Amena, đứa con duy nhất của bà. Phụ thân nàng là Sheik Abdul Ghany, vị ngôn sứ mù nổi tiếng, được xem là siêu phàm, và được công nhận là Ðạo trưởng Hồi giáo (Imam) về huyền học vào thời của ông. Xin Thượng đế thương xót linh hồn ông! Gắn bó với con gái mình rất nồng nhiệt ông dạy dỗ nàng thật cẩn thận, rót vào tâm hồn nàng toàn bộ tri thức và minh triết của mình. Thật ra, cái học mênh mông của ông không đáng kể nếu so sánh với tri thức mà Thượng đế đã ban cho Amena. Ông ấy nói về cô con gái của mình rằng: “Từ bóng tối đầy đau đớn của tôi xuất hiện ánh sáng vĩ đại đã soi sáng con đường tôi đi qua cuộc đời.”

 Năm Amena hai mươi ba tuổi, người cha đưa nàng tham gia một chuyến hành hương. Khi hai cha con băng qua sa mạc Damascus, tìm đường đi bọc quanh vùng đất hoang vu đó và thành phố biến mất sau lưng họ, vị Imam mù lòa ấy lên cơn sốt và qua đời. Amena chôn cất cha, canh giữ nấm mồ ông suốt bảy ngày bảy đêm. Nàng triệu tinh thần của ông và thẩm tra những bí mật ẩn giấu trong linh hồn ông. Vào đêm thứ bảy, tinh thần của người cha cho phép Amena thôi canh thức và ra lệnh cho nàng du hành tới phía đông nam; lập tức nàng tuân lời. (Zain ngừng nói, đưa mắt nhìn chân trời xa xăm. Một lát sau, ông nói tiếp)::

 Amena tiếp tục cuộc hành trình. Nàng tự tìm lấy lối đi cho mình, cho tới khi tới được tâm điểm của sa mạc ấy, nơi người ta gọi là Rabh el Khali mà theo như tôi biết, chưa từng có đoàn thương buôn nào đi ngang. Người ta nói rằng có một ít kẻ lãng du đã tới địa điểm ấy vào những ngày đầu của đạo Islam. Trong khi đó, đoàn hành hương tin là Amena bị lạc đường. Họ khóc thương nàng đang chết vì đói. Ngay khi vừa trở về thành Damascus, họ kể cho dân chúng nghe thảm kịch ấy. Mọi người quen biết Sheik Abdul Ghany và cô con gái lạ thường của ông đều khóc thương cho hai cha con. Thế rồi theo với nhiều năm trời trôi qua, họ lãng quên.

 Năm năm sau, Amena xuất hiện tại Musil. Do bởi minh triết, tri thức và vẻ đẹp của nàng, sự có mặt ấy làm mê mẩn dân chúng, tựa như một khoanh bạc trong trời đêm từ bầu trời xanh rơi xuống.

NAJEEB: (Xen vào, dù rất quan tâm tới câu chuyện Zain đang kể): Amena có bộc lộ cho dân chúng biết thân thế của nàng không?

ZAIN: Nàng chẳng tiết lộ điều gì về bản thân mình. Ðứng với khuôn mặt đeo mạng, trước các Ðạo trưởng và các học giả, Amena nói tới những điều thiêng liêng bất diệt và mô tả cho họ về Iram, Thành đô cột cao ngất, bằng phong thái rất hùng biện, gây sửng sờ và làm say sưa những người nghe nàng. Từ đó, số người đi theo Amena đông lên theo với từng ngày.

 Nhưng rồi các nhà thông thái của thành phố Musil càng ngày càng ganh tị với Amena. Họ than vãn với Tiểu vương. Ông triệu nàng tới trước mặt mình. Khi nàng vừa xuất hiện, Tiểu vương đặt vào tay nàng một gói vàng và yêu cầu nàng đi ra khỏi ranh giới của thành phố. Amena không chịu nhận số vàng đó. Và nàng một mình rời thành phố trong bóng đêm che khuất.

 Amena du hành qua Constantinople, Damascus, Homs và Tripoli. Tại mỗi thành phố, nàng mang ánh sáng tới con tim của dân chúng tụ tập chung quanh nàng và bị thu hút bởi sức mạnh huyền bí của nàng. Tuy nhiên, các Ðạo trưởng ở những nơi đó chống đối nàng, và phần số của nàng là tiếp tục cuộc lưu đày. Cuối cùng, sau khi quyết định đi theo cuộc sống cô đơn, Amena tới chỗ này mấy năm trước đây. Bản thân nàng từ khước mọi sự chỉ trừ tình nàng yêu Thượng đế và các chiêm nghiệm của nàng về những huyền bí của Ngài.

Những điều tôi vừa kể chỉ là bức tranh rất nhỏ về lich sử của Amena Devine. Nhưng sức mạnh đầy ân sủng được Thượng đế ban cho khiến tôi am hiểu đôi điều về sự hiện hữu có tính lý tưởng của nàng thì cũng y như sức mạnh mà trong chất ngất say sưa của con tim mình, khiến tôi không có khả năng diễn tả bằng ngôn từ trần thế những diệu kỳ của Amena Devine. Làm sao loài người có thể gom vào một chiếc tách toàn bộ minh triết đang bao phủ thế giới trong nhiều chiếc tách?

NAJEEB: Thưa ông, tôi rất biết ơn về những thông tin sống động và đáng quan tâm mà ông vừa cống hiến. Lúc này, lòng tôi khắc khoải gặp nàng lớn lao hơn bao giờ hết!

ZAIN: (Ngó Najeeb với hai con mắt sắc sảo): Anh là người Kitô giáo, phải không?

NAJEEB: Ðúng thế, tôi là người Kitô giáo từ lúc mới chào đời. Nhưng đó hoàn toàn là vấn đề đạo dòng. Tổ tiên của tôi truyền cho tôi một tôn giáo, giống như cha mẹ tôi đặt cho tôi một cái tên. Có lẽ tôi phải nói thêm rằng nếu gạt bỏ các tôn giáo muôn hình muôn vẻ, lúc đó chúng ta sẽ tìm thấy mình hiệp nhất và vui hưởng một đức tin và một tôn giáo cao cả và duy nhất, chan hòa tình huynh đệ.

ZAIN: Anh phát biểu rất minh triết. Về vấn đề một đức tin hiệp nhất thì Amena Devine là nguồn thông tin dồi dào nhất. Ðối với vô số người thuộc mọi tín ngưỡng và mọi dòng tộc, nàng như sương sớm mai từ trời cao rơi xuống và trở thành những hạt ngọc long lanh trên các cánh lá đầy màu sắc của mọi đóa hoa.

(Tới đây, Zain ngừng nói, đưa mắt nhìn sang hướng đông, thận trọng lắng nghe. Kế đó, ông đứng lên, ra hiệu cho Najeeb cảnh giác. Zain báo tin với giọng thì thầm sôi nổi): Amena đang tới gần chúng ta. Cầu cho anh gặp may!

NAJEEB: (Nói bằng giọng thì thầm ấp úng): Những tháng khắc khoải dài đăng đẳng của tôi chẳng mấy chốc nữa có thể sẽ được đền đáp! (Najeeb đặt tay lên trán như thể làm lắng xuống luồng căng thẳng đang bùng lên; anh cảm giác trong bầu khí có điều gì đó vừa biến đổi. Nhớ lại những lời của Zain về khả năng thất bại, vẻ mặt rạng rỡ như thấy trước niềm vui sướng của Najeeb chợt biến đổi thành ưu tư sâu xa.)

 (Amena Divine đi vào và đứng trước mặt hai người. Nàng mang áo chùng dài bằng lụa. Nét mặt, cử chỉ và trang phục khiến nàng trông giống một nữ thần được thờ phượng trong các thời đại đã qua hơn là một phụ nữ phương Ðông thời nay. Ngay cả tuổi của nàng, người ta cũng không thể ước lượïng đại khái vì bộ mặt của Amena Divine tuy tươi trẻ nhưng không lộ cho thấy niên kỷ. Và đôi mắt sâu thẳm của nàng phản chiếu một ngàn năm minh triết và khổ đau. Najeeb và Zain vẫn bất động đầy tôn kính, như thể đang đứng trước mặt của một trong các sứ giả của Thượng đế.)

AMENA: (Sau khi, bằng đôi mắt đẹp tuyệt trần của mình, nhìn chằm chặp Najeeb như thể thâm nhập con tim anh, nàng nói với giọng tự tin và thanh thản): Anh có mặt ở đây để biết về chúng tôi nhưng anh sẽ chẳng biết về chúng tôi nhiều hơn biết về bản thân anh, và anh sẽ nghe từ chúng tôi những gì anh nghe từ bản thân anh.

NAJEEB: (Lúng túng và tỏ vẻ e sợ, căng thẳng): Tôi đã thấy, đã nghe và đã tin… Tôi được toại nguyện.

AMENA: Chớ hài lòng với sự toại nguyện cục bộ, vì kẻ nào nhận xuống con suối sự sống một chiếc bình trống rỗng sẽ ra đi với hai bình đầy ắp. (Amena chìa tay về phía Najeeb. Anh kính sợ nắm lấy bằng cả hai bàn tay mình và hôn lên gốc các ngón tay nàng, như bị thúc ép bởi một cảm xúc mạnh mẽ và không rõ. Kế đó, Amena đưa bàn tay kia cho Zain, và ông hôn lên nó. Najeeb có vẻ hạnh phúc vì rõ ràng mình vừa theo đúng thủ tục đầu tiên. Amena Divine chầm chậm rút hai tay về).

AMENA: (Ngồi lên một tảng đá mịn và nói với Najeeb): Ðây là các chiếc ghế của Thượng đế. Hãy ngồi xuống. (Najeeb ngồi xuống kế bên; Zain cũng làm như thế. Amena tiếp tục nói với Najeeb): Chúng tôi thấy trong đôi mắt anh ánh sáng chân chính của Thượng đế, và kẻ nào nhìn thấy ánh sáng chân chính của Thượng đế sẽ thấy trong chúng ta thực tại nội tâm của chúng ta. Anh chân thành, anh yêu chân lý, do đó, anh khao khát được biết chân lý thêm nữa. Nếu có lời nào để nói, anh cứ nói, chúng tôi sẽ lắng nghe, và nếu có trong tâm hồn mình câu nào để hỏi, anh hãy hỏi, chúng tôi sẽ thực sự trả lời.

NAJEEB: Tôi đến để thẩm tra một vấn đề đang là đề tài nóng bỏng trong những cuộc đàm đạo của các đám đông. Nhưng khi tôi tìm thấy mình trong sự có mặt của nàng, tôi nhận ra kích thước vĩ đại của ý nghĩa của cuộc đời, của chân lý và của Thượng đế; và lúc này, mọi cái khác đều không quan trọng. Tôi giống như một ngư phủ ra biển với hi vọng tìm thấy chiếc lưới của mình nặng trĩu cá, đủ luơng thực cho một ngày, nhưng khi kéo lưới lên, y thấy trong đó có một đống đá quí có giá trị vĩnh viễn.

AMENA: Tôi thấy trong tâm hồn của anh rằng anh đã nghe nói tới việc chúng tôi đi vào Iram, Thành đô cột cao ngất, và rằng lúc này anh khao khát đuợc nghe nhiều hơn về Thành đô Hoàng kim.

NAJEEB: (Hổ thẹn, tuy thế, quan tâm mãnh liệt): Ðúng vậy. Từ thuở tôi còn bé, cái tên Iram, Thành đô cột cao ngất, đã đuổi theo các giấc mộng của tôi. Nó ám ảnh các ý nghĩ của tôi, khích động con tim tôi với ý nghĩa ẩn mật và tầm quan trọng lớn lao của nó.

AMENA: (Ngước mặt, nhắm hai mắt, với giọng mà đối với Najeeb dường như bắt nguồn ngay từ tâm điểm của không gian, nàng nói trang trọng): Ðúng, chúng tôi đã tới, đã vào Thành đô Hoàng kim, đã ở lại tại đó ít lâu, đã khiến cho linh hồn mình tràn ngập mùi hương của nó, con tim mình chan chứa các bí mật của nó, đảy của mình đựng đầy ngọc trai và hồng ngọc của nó, đôi tai của mình đong đầy âm nhạc của nó và đôi mắt của mình ngây ngất vẻ đẹp của nó. Và anh, kẻ đang nghi ngờ những gì chúng tôi đã thấy, đã nghe và đã tìm được ở đó, đồng thời là kẻ nghi ngờ bản thân mình trước mặt Thượng đế và con người.

NAJEEB: (Với vẻ khó khăn và khiêm tốn, nói chậm rãi): Tôi không là gì cả mà chỉ là một đứa bé đang ngọng ngịu ấp úng và không có khả năng tự mình diễn tả. Nàng có vui lòng giải thích thêm và tha lỗi cho nhiều câu hỏi của tôi không?

AMENA: Hãy hỏi như anh muốn hỏi, vì Thượng đế làm nên nhiều cánh cửa mở vào chân lý, và Ngài mở ra cho hết thảy những ai gõ lên đó bằng bàn tay của đức tin.

NAJEEB: Nàng đã vào Iram, Thành đô cột cao ngất, bằng thể xác hay bằng tinh thần? Có phải Thành đô Hoàng kim ấy được xây nên bằng các thành tố lấp lánh của thế giới này, hoặc có phải nó là một thành phố tưởng tượng, hoặc có tính tâm linh mà chỉ có các ngôn sứ của Thượng đế mới có thể tới trong xuất thần khi Thiên ý làm ngưng thình lình trên linh hồn họ tấm mạng của hằng cửu.

AMENA: Hết thảy trên thế gian, thấy được hay không thấy được, đều chỉ có tính cách tinh thần. Tôi đi vào Thành đô Hoàng kim với thể xác của tôi, cái đơn thuần là biểu thị trần thế của tinh thần cao cả hơn của tôi và cái đó cũng cũng là, trong hết thảy mọi người, một mái vòm nhất thời để giữ an toàn cho tinh thần. Tôi đi vào Iram bằng thể xác của tôi được giấu diếm trong tinh thần của tôi, vì cả thể xác lẫn tinh thần đều có mặt trong khi ở trần thế. Kẻ nào cố sức chia tách thể xác khỏi tinh thần hoặc tinh thần khỏi thể xác, tức là đang điều hướng con tim của y xa hẳn chân lý. Ðóa hoa và hương thơm của hoa là một; người mù có thể phủ định màu sắc và hình ảnh của đóa hoa, tin rằng nó chỉ sở hữu hương thơm đang dao động thinh không, thì chẳng khác gì người nghẹt mũi tin rằng các đóa hoa chỉ là hình ảnh và màu sắc, chẳng sở hữu hương thơm.

NAJEEB: Thế thì Iram, Thành đô cột cao ngất, chỉ có tính tinh thần!

AMENA: (Nói độ lượng): Thời gian và nơi chốn đều là trạng thái tinh thần, và tất cả những gì thấy được và nghe được đều có tính tinh thần. Nếu anh nhắm đôi mắt mình lại, anh sẽ nhận biết vạn vật qua những chốn sâu thẳm nhất trong cái tôi bên trong của anh, anh sẽ thấy thế giới vật thể và phi vật thể, trong toàn bộ dự phóng của nó, anh sẽ tự mình làm quen với các định luật thiết yếu và các dự phòng của nó, và anh sẽ hiểu sự vĩ đại nó đang sở hữu ở quá bên kia sự gần gũi của nó. Vâng, nếu anh nhắm đôi mắt mình lại, mở con tim và tri giác bên trong mình ra, anh sẽ khám phá sự bắt đầu và sự kết thúc của cuộc hiện sinh… Rằng bắt đầu, tới lượt của nó, trở thành một kết thúc và kết thúc sẽ trở thành một bắt đầu.

NAJEEB: Phải chăng mọi người đều có khả năng nhắm mắt theo cách đó và thấy sự thật không che đậy của đời sống và của cuộc hiện sinh?

AMENA: Con người được Thượng đế trao cho quyền hi vọng và hi vọng tha thiết cho tới khi cái y đang hi vọng khoác chiếc áo choàng quên lãng từ đôi mắt y, và rồi cuối cùng, y sẽ nhìn thấy bản ngã đích thực của mình. Kẻ nào thấy bản ngã đích thực của mình thì thấy chân lý của cuộc sống thực sự, cho bản thân, cho toàn thể loài người và cho toàn thể vạn vật.

NAJEEB: (Ðặt cả hai bàn tay lên ngực): Thế thì hết thảy những gì tôi có thể thấy, có thể nghe, có thể chạm tới và có thể nghĩ tới trong vũ trụ này đều hiện hữu ngay ở đây, trong chính tâm hồn tôi!

AMENA: Vạn vật trong vũ trụ mênh mông này đều hiện hữu trong anh, với anh và cho anh.

NAJEEB: Thế thì tôi có thể nói chính xác rằng Iram, Thành đô các cột cao ngất không ở chốn xa xôi; nó được tìm thấy ngay bên trong tôi, bên trong thực thể đang hiện hữu như là Najeeb Rahmé này.

AMENA: Vạn vật trong cuộc sáng thế đều ở bên trong anh, và vạn vật bên trong anh hiện hữu trong cuộc sáng thế. Không có ranh giới giữa anh và các vật gần gũi. Không có khoảng cách giữa anh và các vật xa xôi. Và vạn vật, từ cái thấp nhất tới cái cao nhất, từ cái nhỏ nhất tới cái lớn nhất, đều ở bên trong anh, như là những vật chẳng hơn chẳng kém gì nhau.

 Trong một nguyên tử, tìm thấy hết thảy các thành tố của trái đất; trong một chuyển động của tâm trí, tìm thấy mọi chuyển động của hết thảy các định luật sinh tồn; trong một giọt nước, tìm thấy những bí mật của hết thảy các đại dương vô tận; và trong một khía cạnh của anh, tìm thấy mọi khía cạnh của cuộc hiện sinh.

NAJEEB: (Chất ngất với tính mênh mông của chủ đề; sau một thoáng im lặng để tiêu hóa trọn vẹn lời chỉ dẫn đó): Tôi nghe người ta kể rằng nàng đã du hành nhiều ngày trước khi tới được tâm điểm của sa mạc Rabh el Khali, và rằng tinh thần của thân phụ nàng tự vén lộ cho nàng và định hướng nàng trong cuộc du hành dài ngày đó, cho tới khi tới được Thành đô Hoàng kim. Nếu một người khao khát đượïc tới thành đô đó, y có cần phải ở trong trạng thái tinh thần như nàng đã sở hữu trong thời điểm đó không, và có cần đòi hỏi rằng y phải sở hữu minh triết của nàng để với tới lối vào chốn tuyệt vời mà nàng đã ghé lại không?

AMENA: Chúng tôi đã băng qua sa mạc, chịu khổ sở với những cơn đói thắt ruột và cơn khát điên dại, những sợ hãi ban ngày và kinh hoàng ban đêm, và sự im lặng đáng sợ của hằng cửu, trước khi thấy tường thành của Thành đô Hoàng kim. Nhưng trước chúng tôi, có nhiều người đãõ tới được thành đô của Thượng đế mà không phải đi một thước đất nào, và họ miệt mài vui thú trong cái đẹp, trong sự sáng lạng của nó mà không có chút khổ não nào trong thể xác và tinh thần. Quả thật, tôi nói với anh rằng nhiều người đã và đang viếng thăm Thành đô Thiêng liêng dù họ chưa bao giờ rời nơi mình chào đời.

 (Amena ngừng bặt, giữ yên lặng trong một khoảnh khắc, rồi nàng đưa tay chỉ tới các loại cây cối chung quanh mình và nói): Vì mỗi hạt mầm mà mùa thu thả vào lòng đất thì hiện hữu ở đó một phong cách khác nhau khi nứt vỏ từ lõi của nó, rồi sinh ra lá, rồi sinh ra hoa, và rồi quả, Nhưng bất chấp sự hình thành xảy ra trong đó như thế nào, mỗi cây đều phải đảm đương cuộc hành trình duy nhất ấy, và sứ mệnh cao cả của nó là đứng trước vầng mặt trời.

ZAIN: (Ðong đưa thân mình, đầy phong nhã, bị ấn tượng bởi Amena nên như đang trong cảnh giới siêu phàm. Với giọng đầy cảm hứng, ông sùng tín hô lớn): Thượng đế vĩ đại! Chỉ có đấng Thượng đế độc nhất là Allah, Ðấng rất mực thương xót, Ðấng hiểu rõ mọi nhu cầu của chúng ta!

AMENA: Thượng đế vĩ đại! Chỉ có đấng Thượng đế độc nhất là Allah… không gì cả chỉ có Allah!

ZAIN: (Lặp lại những lời của Amena với giọng thì thầm vừa đủ nghe nhưng rất sôi nổi và run bần bật).

NAJEEB: (Nhìn chằm chặp Amena như đang trong trạng thái xuất thần, rồi nói với giọng mạnh mẽ, thách thức): Chỉ có đấng Thượng đế độc nhất là Thiên Chúa!

AMENA: (Kinh ngạc): Chỉ có đấng Thượng đế độc nhất là Allah… không gì cả chỉ có Allah. Anh có thể nói lời ấy mà vẫn là người Kitô giáo vì Thượng đế, đấng biết rõ rằng không có phân biệt nào giữa các từ ngữ cùng danh hiệu, và Ngài là đấng Thượng đế từ khước ban ân sủng cho kẻ theo một lối đi khác để tới hằng cửu, thế thì ta không nên đem lòng thờ phượng một con người nào.

NAJEEB: (Cúi đầu, nhắm hai mắt và lặp lại lời Amena vừa cầu nguyện Allah. Rồi anh ngẩng lên và nói): Tôi sẽ nói những lời ấy với Thượng đế, đấng ban cho tôi con đường chân chính để đi tới Ngài, và tôi sẽ tiếp tục nói những lời ấy với Ngài cho tới lúc kết thúc cuộc sống mình, vì tôi đang tìm kiếm chân lý. Và lời tôi cầu nguyện lên Thượng đế là với đấng Thượng đế ở bất cứ nơi nào Ngài có thể ở. Tôi sẽ yêu thương bất cứ danh hiệu nào được dùng để có thể gọi Ngài. Tôi yêu thương Thượng đế… suốt cuộc đời mình, tôi sẽ yêu thương Thượng đế.

AMENA: Cuộc đời của anh sẽ không kết thúc, anh sẽ sống mãi mãi.

NAJEEB: Tôi là ai và tôi là cái gì mà sống tới hằng cửu?

AMENA: Anh là anh, và như thế, anh là tạo vật của Thượng đế, và do đó, anh là mọi sự.

NAJEEB: Amena Divine này, tôi biết rằng các phân tử hợp thành cái tôi của chính tôi sẽ vẫn còn chừng nào tôi vẫn còn, nhưng liệu các ý nghĩ mà tôi gọi là của tôi có vẫn còn không? Liệu có vẫn còn cái lờ mờ, cái nhận thức mới mẻ, được bao bọc bằng giấc ngủ lúc rạng đông? Liệu có vẫn còn những hi vọng và khát vọng, khổ não và hân hoan này? Liệu có vẫn còn những tưởng tượng run rẩy đầy thao thức này hay rực rỡ trong ánh sáng của chân lý này?

AMENA: (Ðưa mắt nhìn lên trời như thể nói với cái gì đó trong lỗ hổng bao la của không gian. Rồi với giọng mạnh mẽ, rõ ràng, nàng nói): Mỗi vật đang hiện hữu sẽ vẫn còn mãi mãi; chính sự hiện hữu của hiện hữu là bằng chứng cho thấy tính chất hằng cửu của nó. Nhưng không có sự nhận biết minh bạch ấy, tức là tri thức về một hữu thể hoàn hảo, con người sẽ không bao giờ biết đó là hiện hữu hay phi hiện hữu. Nếu sự hiện hữu mang tính hằng cửu ấy bị biến đổi, thế thì nó phải trở thành tuyệt diệu hơn. Nếu nó bị biến mất, thế thì nó phải quay trở lại bằng hình ảnh siêu phàm hơn. Và nếu nó ngủ, thế thì nó phải mơ mộng tới một thức giấc tỉnh táo hơn. Nó phải như thế vì một khi tái sinh, nó luôn luôn lớn lao hơn.

 Tôi cảm thấy thương hại cho kẻ thừa nhận tính chất hằng cửu của các thành tố làm thành con người nhưng đồng thời hoài nghi tính chất hằng cửu của các vật muôn hình muôn vẻ đang dùng con mắt làm trung gian.

Tôi cảm thấy thương cảm cho kẻ phân chia cuộc sống thành hai phần nhưng đồng thời đặt đức tin vào phần này, và trong cùng một lúc, đặt hoài nghi vào phần kia.

 Tôi buồn rầu cho kẻ nhìn lên núi non và thảo nguyên trên đó mặt trời đang tỏa ánh nắng, kẻ lắng nghe ngọn gió hiu hiu đang hát bài ca của những cành cây mỏng manh và kẻ ngửi hương thơm của các đóa hoa, đồng thời tự nhủ với mình rằng: “Không, những gì tôi đang thấy đang nghe sẽ ra đi mãi mãi, và những gì tôi đang biết đang cảm giác sẽ biến mất.” Linh hồn hèn mọn ấy, nó trông thấy và chiêm nghiệm đầy tôn kính những hân hoan và khổ não chung quanh nó và rồi phủ định tính chất hằng cửu của những hiện hữu đó, linh hồn ấy phải tự nó tan loảng như làn hơi trong không khí và phải biến mất vì nó đang tìm kiếm bóng tối cùng quay lưng lại với chân lý. Thực ra, nó là một linh hồn đang sống trong sự phủ định chính sự hiện hữu của nó, vì nó cũng từ khước những cái đang hiện hữu khác của Thượng đế.

NAJEEB: (Nao nức): Amena Divine ạ, tôi tin vào sự hiện hữu của tôi, và kẻ nào nghe lời này của nàng mà không tin, kẻ đó là người tuy đang sống nhưng chẳng hơn gì một tảng đá rắn đặc.

AMENA: Thượng đế đã đặt trong mỗi linh hồn một hướng dẫn chân chính tới sự sáng cao cả, nhưng con người phấn đấu cố tìm cho thấy cuộc sống ở bên ngoài bản thân nó, nó không nhận thức rằng cuộc sống nó đang tìm kiếm thì ở bên trong bản thân nó.

NAJEEB: Có ánh sáng nào bên ngoài thể xác để qua đó chúng ta có thể soi sáng con đường đi vào những chốn sâu thẳm bên trong bản thân mình không? Chúng ta có sở hữu sức mạnh nào có khả năng khuấy động tinh thần của mình và đánh thức trong mình cái nhận thức minh bạch sự lãng quên sống động ấy của mình và chỉ cho mình thấy lối đi tới hằng cửu không?

 (Najeeb im lặng trong ít lâu, rõ ràng sợ sẽ phải nói tiếp. Rồi anh tiếp tục như thể đang khuất phục sự miễn cưỡng): Amena Divine này, thân phụ của nàng có vén lộ cho nàng bí mật về sự giam hãm trần tục của linh hồn không?

AMENA: Thật vô ích cho khách lữ thứ gõ lên cánh cửa một ngôi nhà trống rỗng. Loài người đang đứng câm lặng giữa sự phi hiện hữu bên trong bản thân nó và thực tại của những cái đang vây quanh nó. Nếu chúng ta không sỡ hữu cái mình có bên trong bản thân, chúng ta không thể nào có những cái mà chúng ta gọi là vùng xung quanh mình. Tinh thần của cha tôi gọi tôi khi khi linh hồn tôi gọi linh hồn ông, và vén lộ cho tri thức bên ngoài của tôi những gì trí thức bên trong của tôi đã biết sẵn.

 Do đó, nói giản dị, nếu bên trong tôi không có kẻ đói và kẻ khát, tôi sẽ không kiếm thấy thức ăn và nước uống từ những cái xung quanh tôi. Và nếu không có khát khao và mến cảm bên trong tôi, tôi sẽ không tìm thấy đối tượng khát khao và mến cảm của tôi xung quanh tôi trong Thành đô các cột cao ngất.

NAJEEB: Có phải mỗi người đều có khả năng xe lấy chỉ từ những nguồn tiếp sức của khát khao và mến cảm của mình, và gắn sợi chỉ ấy vào giữa linh hồn nó với một linh hồn đã ra đi? Có phải bất cứ người nào cũng được ban cho năng lực để nói chuyện với các tinh thần và hiểu rõ ý chí và mục đích của chúng?

AMENA: Giữa người hằng cửu và người trần thế có sự hiệp thông liên tục; tất cả đều tuân theo ý chí của sức mạnh không thấy được đó. Thông thường, cá nhân khi thể hiện một hành động, nó tin rằng hành động ấy phát sinh từ ý chí, ý muốn và mệnh lệnh tự do của bản thân nó. Thế nhưng thực tế, nó đang bị hướng dẫn và bị thúc ép bởi một độ chính xác để thể hiện hành động ấy. Nhiều bậc vĩ nhân sở đắc vinh quang của họ bằng cách tự mình qui thuận, hoàn toàn phục tùng ý chí của tinh thần, sử dụng không khiên cưỡng hoặc không kháng cự những đòi hỏi của tinh thần, như cây vĩ cầm tự nó đầu hàng toàn bộ ý chí của một nhạc sĩ điêu luyện.

 Giữa thế giới tinh thần và thế giới bản thể có một con đường trên đó chúng ta bước đi trong cơn ngất của giấc ngủ say. Nó với tới chúng ta và chúng ta không nhận thức được sức mạnh của nó. Và khi quay trở về bản thân mình, chúng ta nhận thấy mình, với hai bàn tay thật sự của mình, đang mang những hạt mầm được gieo trồng cẩn thận trong đất lành của cuộc sống hằng ngày của mình, trổ thành các cử chỉ ngay lành và các lời nói đẹp đẽ. Nếu không có con đường ấy giữa cuộc đời của chúng ta với những cuộc đời đã ra đi, thì chẳng có ngôn sứ, chẳng có thi sĩ, hoặc chẳng có học giả nào xuất hiện giữa người đời. (Amena xuống giọng thành tiếng thì thầm, buộc người nghe phải chú ý, rồi nàng tiếp tục):

Quả thật tôi nói với anh và hậu quả của thời gian sẽ chứng minh lời nói của tôi, rằng có mối nối kết giữa thượng giới và hạ giới, nó chắc chắn không kém sợi dây ràng buộc giữa người mẹ và đứa con của bà. Chúng ta bị bao phủ với một bầu khí mang tính trực giác, nó lôi cuốn ý thức bên trong của chúng ta, tri thức đang cảnh cáo óc phán đoán của chúng ta và sức mạnh đang củng cố sức mạnh của chính chúng ta.

 Tôi nói với anh rằng lòng hoài nghi của chúng ta sẽ không thể bác bỏ hoặc củng cố sự đầu hàng của chúng ta đối với những cái bị chúng ta hoài nghi; thực tế của sự làm cho bản thân bận rộn trong việc tự làm vừa lòng mình sẽ không thể khiến cho chúng ta bị chệch hướng khỏi sự thành tựu bởi các tinh thần và các mục đích của chúng; và việc làm mù lòa bản thân trước thực tại của hữu thể tinh thần của mình sẽ không thể che giấu hữu thể tinh thần của chúng ta khỏi những con mắt của vũ trụ; và nếu chúng ta có dừng bước thì chúng ta cũng vẫn còn đi nếu chúng đang đi… và nếu chúng ta còn bất động, chúng ta vẫn chuyển động với chuyển động của chúng… và nếu chúng ta làm mình im lặng, chúng ta vẫn đang nói bằng giọng của chúng.

 Giấc ngủ của chúng ta không thể điều hướng bản thân mình khỏi ảnh hưởng của sự tỉnh thức của chúng; sự thức giấc của chúng ta cũng không thể làm cho các giấc mơ của mình chệch hướng khỏi các cấp độ của óc tưởng tượng của mình, vì chúng ta và chúng là hai thế giới bị bao bọc bên trong một tinh thần duy nhất… chúng ta và chúng là hai hiện hữu được hiệp làm một bởi Ý thức Tối thượng và Hằng cửu, ở trên mọi sự, và không bắt đầu cũng chẳng kết thúc.

NAJEEB: (Rạng rỡ, lúc này anh suy nghĩ và cảm giác chung tuyến với những mặc khải của Amena Devine): Bao giờ sẽ đến cái ngày con người khám phá qua tri thức khoa học và kinh nghiệm cùng biểu thị trần thế những gì các tinh thần hằng biết qua Thượng đế và tâm hồn chúng ta đã và đang biết qua khát khao? Chúng ta có phải chờ cái chết mới có thể kiến lập sự hằng cửu của bản ngã lý tưởng của chúng ta? Bao giờ sẽ đến cái ngày chúng ta cảm giác bằng các ngón của bàn tay mình những bí mật vĩ đại ấy, những cái mà lúc này chúng ta chỉ cảm thấy bằng các ngón tay của đức tin?

AMENA: Vâng, ngày đó sẽ đến. Nhưng vô minh biết bao kẻ bằng một số giác quan của mình, thấy một cách hiển nhiên sự hiện hữu trừu tượng ấy, mà vẫn cứ hoài nghi cho tới khi sự hiện hữu ấy tự nó bộc lộ cho mọi giác quan của họ. Bộ đức tin không là giác quan của tâm hồn và nó thật, chẳng kém cái thật của thị lực là giác quan của mắt sao? Hẹp hòi biết bao kẻ nghe khúc hát của con chim đang hót và thấy nó đang chuyền trên cành cây nhưng nghi ngờ những cái đang thấy đang nghe đó cho tới khi tóm được con chim ấy trong tay mình. Có phải đối với y, một phần của các giác quan là quá đủ? Lạ lùng biết bao kẻ thật sự mơ tưởng một thực tại đẹp đẽ nhưng khi ra sức uốn nắn nó thành hình dạng mà không đạt kết quả, y nghi ngờ giấc mơ ấy, y báng bổ thực tại và không tin cậy cái đẹp!

 Mù lòa biết bao kẻ tưởng tượng và thiết kế một vấn đề với toàn bộ hình dáng và các góc cạnh của nó, nhưng khi không thể chứng minh nó một cách đầy đủ bằng thước đo hời hợt và chứng cớ ngôn từ, thì y tin rằng ý tưởng cùng các tưởng tượng ấy chỉ là những cái trống rỗng! Nhưng nếu y suy tưởng trong chân thành và chiêm nghiệm về những cái đang xảy ra đó, y sẽ hiểu một cách xác tín rằng ý tưởng của y là một thực tại, nó thật, chẳng kém cái thật của con chim trên trời, tuy rằng nó chưa được kết tinh và rằøng ý tưởng ấy là một khúc, một đoạn tri thức, vốn không thể chứng minh bằng hình ảnh và ngôn từ vì nó quá cao vời và quá mênh mông, không thể bị giam nhốt trong khoảnh khắc, được ghi khắc rất sâu xa trong tâm linh nhưng không thể trình bày xác thực.

NAJEEB (Tin tưởng nhưng hiếu kỳ): Bộ có một hữu thể chân chính trong toàn bộ tưởng tượng, và có tri thức thật sự trong mọi ý tưởng và tưởng tượng sao?

AMENA: Quả thật, chiếc gương của tâm hồn không thể nào phản chiếu cái không đứng trước nó. Hồ nước tĩnh lặng không thể nào cho thấy trong chiều sâu của nó hình ảnh của ngọn núi hoặc loại hình ảnh của cái cây hay đám mây nào không hiện hữu gần kề mặt hồ. Ánh sáng không thể nào rọi trên mặt đất chiếc bóng của một vật thể không hiện hữu. Không cái nào có thể được thấy, được nghe hoặc được cảm giác nếu nó không thật sự hiện hữu.

 Khi anh biết một vật, anh tin nó. Và một tín đồ chân chính thấy với nhận thức minh bạch mang tính tinh thần của mình cái mà kẻ thẩm tra bề mặt không thể thấy bằng con mắt của chiếc đầu y; tín đồ ấy am hiểu bằng ý nghĩa bên trong cái mà kẻ xem xét bên ngoài không thể am hiểu bằng quá trình tư tưởng có tính đòi hỏi và thu đạt của y.

 Tín đồ ấy tự mình làm quen với các thực tại thiêng liêng bằng các giác quan sâu xa, khác với các giác quan mà kẻ khác dùng. Một tín đồ xem các giác quan của mình như tường thành to lớn bọc quanh mình thì khi cất bước lên đường, y nói rằng, “Thành đô này không có lối vào nhưng nó toàn hảo bên trong.” (Amena đứng dậy, đi về phía Najeeb. Sau đó, nàng dừng lại một chút và nói): Tín đồ ấy sống thường trực suốt ngày suốt đêm, trong khi cuộc sống không chung thủy thì chỉ có vài giờ thôi.

 Nhỏ bé biết bao cuộc sống của kẻ đặt bàn tay ở giữa mặt mình và thế giới, nó chỉ thấy vỏn vẹn những đường chỉ trong lòng bàn tay của nó.

 Phi lý biết bao kẻ quay lưng lại với mặt trời, nó chỉ thấy vỏn vẹn chiếc bóng của cái tôi vật thể của mình trên mặt đất.

NAJEEB: (Ðứng dậy, chuẩn bị ra đi): Tôi có nên nói với người đời rằng Iram, Thành đô cột cao ngất, là một thành đô tâm linh của các giấc mộng, và rằng Amane Divine đã tới nó qua khát khao và mến cảm nó, và qua cánh cửa của đức tin.

AMENA: Hãy nói với họ rằng Iram, Thành đô cột cao ngất là một thành đô thật, nó hiện hữu cùng với sự hiện hữu hữu hình của các đại dương, các ngọn núi, các rừng rậm và các sa mạc, vì hết thảy trong hằng cửu đều thật. Hãy nói với họ rằng Amena Divine đã tới thành đô ấy sau khi băng qua sa mạc mênh mông, chịu thống khổ vì khát, hành hạ vì đói, và khổ não kinh hãi vì cô đơn.

Hãy nói với họ rằng Thành đô Hoàng kim được xây dựng bởi những người khổng lồ của các thời đại từ những thành tố lấp lánh của cuộc hiện sinh, và nó không che giấu mọi người, ngoại trừ những kẻ tự dồn mình vào tư thế bị nó che giấu. Và hãy nói với họ rằng kẻ nào đánh mất con đường của y trước khi tới được Iram, phải qui trách nhiệm cho hướng dẫn chứ không cho con đường gập ghềnh gian nan.

 Hãy nói với họ rằng kẻ không thắp sáng ngọn đèn chân lý của mình thì sẽ thấy con đường ấy tối tăm và không thể vượt qua. (Amena nhìn lên trời với tình yêu trong đôi mắt; khuôn mặt nàng phát ra vẻ dịu dàng, an tĩnh).

NAJEEB: (Chầm chậm đi tới gần Amena, đầu cúi xuống, cầm lấy tay nàng và thì thầm): Trời đã xế chiều, tôi phải trở về nơi cư ngụ của người đời trước khi bóng tối phủ kín con đường.

AMENA: Dưới sự định hướng của Thượng đế, anh sẽ tìm thấy con đường của mình trong ánh sáng.

NAJEEB: Tôi sẽ bước đi trong ánh sáng của ngọn đuốc vĩ đại mà nàng vừa đặt trong bàn tay run rẩy của tôi.

AMENA: Hãy bước đi trong ánh sáng của chân lý mà bão tố không thể dập tắt. (Amena chăm chú nhìn Najeeb rất lâu, vẻ mặt nàng mang tình yêu của một người mẹ. Rồi nàng rời bước về hướng đông, đi giữa cây cối cho tới khi khuất tầm mắt).

ZAIN: Tôi có thể đi với anh tới vùng lân cận có người ta ở không?

NAJEEB: Thế thì sung sướng cho tôi quá. Tuy thế, tôi tin rằng ông sống gần bên cạnh Amena Divine. Tôi ganh tị với ông. Tôi tự nhủ rằng, “Giá như mình được ở đây.”

ZAIN: Anh có thể sống xa mặt trời nhưng anh không thể sống gần mặt trời, tuy thế anh cần mặt trời. Tôi thường đến đây để được chúc phúc và nhận lời khuyên bảo, và rồi ra đi trong toại nguyện. (Najeeb mở dây cương, dẫn con ngựa và ra đi với Zain Abedeen).

Màn hạ

(Nguyễn Ước dịch từ bản tiếng Anh. Nguồn: A Treasury of Kahlil Gibran, Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, 1951. Bài “Iram, City of Lofty Pillars”, tr. 106 -128)

Ý kiến

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s